CHƯƠNG 7

     ến đầu giờ chiều, Strike đến tòa nhà Hội sinh viên Đại học London. Bước đi dứt khoát qua quầy lễ tân, giả vờ đang cau có, Strike tranh thủ dùng được phòng tắm mà không bị ai hỏi han hay đòi xuất trình thẻ sinh viên. Sau đó hắn vào căn-tin ăn bánh mì tròn hơi thiu kẹp thịt nguội và một thỏi sô-cô-la. Rồi hắn tiếp tục đi lang thang, mắt lờ đờ vì mệt mỏi, thỉnh thoảng dừng lại hút thuốc, rồi tạt vào hàng quán mua mấy thứ thiết yếu cho cuộc sống tạm bợ sắp tới bằng tiền Bristow mới đưa. Đầu chiều tối hắn ngồi thu lu trong một quán ăn Ý, sau lưng là mấy hộp đồ vừa mua chồng lên nhau ngay cạnh quầy bar. Hắn ngồi đó uống hết ly này tới ly khác cho tới lúc đã quên được một nửa lý do vì sao phải ngồi đó giết thời gian.
Strike về đến văn phòng lúc gần tám giờ tối. Đây cũng là thời điểm mà hắn thấy London đáng yêu nhất; vừa hết giờ làm việc, cửa sổ mấy quán bia bắt đầu lên đèn ấm cúng, như những viên đá trang sức cho thành phố. Đường phố sôi động hẳn, những tòa nhà cổ kính vốn sừng sững giờ trở nên dịu dàng dưới ánh đèn đường, có vẻ gì đó chở che. Strike có cảm giác mấy toà nhà đang thì thầm: Tụi tao thấy nhiều đứa như mày rồi khi hắn lê bước trên phố Oxford, tay ôm một cái giường xếp đóng thùng. Bảy triệu rưỡi trái tim cùng đập một lúc trong thành phố cổ kính mà sôi động này, trong đó sẽ có nhiều trái tim còn đau đớn hơn tim hắn hiện giờ. Bước chân rã rời qua những hàng quán đang đóng cửa, trên đầu là bầu trời đang chuyển màu xanh tím, cảm giác lọt thỏm vô hình giữa không gian rộng lớn bao quanh, Strike tự dưng cũng thấy khuây khỏa phần nào.
Phải cố sức Strike mới tha được cái giường xếp leo cầu thang lên tầng hai, vừa đến cửa văn phòng thì chân phải đau đớn không chịu được. Hắn đứng dựa vào tường một lúc, trọng tâm cơ thể đổ dồn về hết phía chân trái, thở hổn hển vào cửa gương, thấy hơi thở mờ mờ bám trên mặt kính.
“Đồ mập khốn nạn.” Hắn tự rủa. “Chó chết.”
Lau mồ hôi trên trán, hắn mở khóa cửa và đẩy đám đồ đạc mới mua vào trong. Trong phòng làm việc, hắn đẩy bàn qua một bên rồi bật cái giường ra, giũ túi ngủ được cuộn tròn và lấy nước từ bồn rửa mặt đổ đầy vào ấm đun siêu tốc.
Tối nay hắn lại ăn mì ly, sở dĩ hắn chọn món này vì nó gợi nhớ đến những thứ hắn thường mang theo trong túi thức ăn ngày trước: cứ như có mối liên hệ chặt chẽ nào đó giữa những món ăn đồ khô dễ nấu và nơi ở tạm bợ, khiến hắn với tay lấy ngay mấy ly mì. Khi nước đã sôi, hắn đổ vào ly mì, ăn bằng cái nĩa nhựa lấy từ căn-tin trường Đại học hồi chiều. Hắn ngồi trên ghế, nhìn xuống đường sá vắng tanh, nghe tiếng xe rồ máy trong ánh chiều chập choạng ở cuối đường và tiếng bass thình thịch vọng lên từ quán Bar Café số 12 ở tầng trệt.
Hắn từng ngủ ở những nơi tệ hơn thế này nhiều. Sàn đá trong bãi đỗ xe nhiều tầng ở Angola, nhà máy kim loại bị đánh bom nơi bọn hắn phải dựng lều ở tạm và mỗi buổi sáng lại ho ra bụi đen. Tệ hơn nữa là phòng ngủ tập thể nhớp nháp trong hợp tác xã ở Norfolk mà ba mẹ con hắn dọn đến ở, khi đó hắn lên tám còn đứa em gái cùng mẹ khác cha mới sáu tuổi. Hắn cũng nhớ cả những cái giường bệnh viện không hề êm ái mà hắn nằm trong nhiều tháng, những ngôi nhà hoang (lại đi cùng với mẹ), và những cánh rừng lạnh tê tái nơi hắn tập trận. Mặc dù cái giường xếp rất thô sơ, không chút gì mời gọi dưới ngọn đèn trần trụi, nó vẫn thoải mái hơn rất nhiều so với mấy chỗ hắn vừa nghĩ đến.
Chuyện đi mua đồ thiết yếu, dựng trại ngay trong văn phòng khiến Strike lại thấy mình là một người lính, sẵn sàng làm việc phải làm, không thắc mắc hay càm ràm gì cả. Hắn vứt ly mì đã ăn xong, bật đèn lên và ngồi xuống ghế của Robin.
Hắn lập bộ hồ sơ mới – bìa kẹp hồ sơ, giấy trắng, một cái kẹp giấy; cuốn sổ ghi lại cuộc phỏng vấn Bristow; tờ rơi quảng cáo từ quán Tottenham; danh thiếp của Bristow. Trong lúc làm, hắn để ý thấy các ngăn kép sạch sẽ gọn gàng hơn, màn hình máy tính không còn bám bụi, mấy cái tách cà phê và đám rác rưởi cũng biến mất, thoang thoảng có mùi nước hoa xịt phòng Pledge. Hơi tò mò, hắn mở hộp thiếc đựng tiền chi vặt. Trong đó có mẩu giấy viết tay, chữ viết tròn trịa của Robin ghi lại hắn nợ cô ta bốn mươi hai xu tiền bánh quy sô cô la. Strike lấy bốn mươi bảng trong ví ra (vẫn tiền của Bristow) và bỏ vào hộp; rồi nghĩ sao đó, hắn đếm thêm bốn mươi hai xu lẻ đặt lên trên.
Sau đó hắn lấy một cây viết bi trong đống viết đã được Robin xếp lại ngay ngắn ở ngăn kéo đầu tiên. Hắn bắt đầu viết, trôi chảy và nhanh chóng, đầu tiên là ghi ngày tháng. Hắn xé trang giấy ghi cuộc phỏng vấn với Bristow, đính kèm vào trong tập hồ sơ; ghi thêm những việc đã làm hôm nay, gồm cả điện thoại (nhưng hắn không ghi gì cả về cuộc gọi thứ hai với gã bạn đã cung cấp những cái tên và địa chỉ mà hắn sắp dùng để đổi chác với Wardle).
Làm xong, Strike đánh số thứ tự trên gáy tập hồ sơ, viết thêm vào đó một dòng Chết đột ngột. Lula Landry rồi đặt tập hồ sơ vào góc phải trên kệ.
Cuối cùng hắn mới mở phong bì Bristow đưa để xem những manh mối quan trọng mà cảnh sát đã bỏ qua, như ông ta nói. Chữ viết tay của ông luật sư gọn gàng và đủ nét, hơi ngả ra sau, dày đặc cả trang giấy. Đúng như lời Bristow, nội dung ghi chép chủ yếu là về hành động của một người được ông ta đặt tên là “Người bỏ chạy”.
Người bỏ chạy là một người đàn ông da đen, mang khăn quàng cổ che kín mặt, xuất hiện trên đoạn băng ghi hình từ camera đặt trên xe buýt đêm tuyến Islington về phía Tây London. Ông ta lên xe khoảng năm mươi phút trước khi Lula Landry chết. Sau đó ông ta lại tiếp tục xuất hiện trong băng ghi hình từ camera ở khu Mayfair, đi về hướng căn hộ của Landry lúc 1 giờ 39 phút sáng. Trên băng ông ta dừng lại để đọc một mẩu giấy (có lẽ là ghi địa chỉ hay chỉ đường? Bristow cẩn thận viết thêm) rồi đi ra khỏi tầm máy quay.
Băng ghi hình tiếp tục cho thấy Người bỏ chạy đang chạy thục mạng ngang qua camera lúc 2 giờ 12 phút sáng, rồi biến khỏi tầm máy quay. Có thể là một người da đen thứ hai – chắc đang canh chừng? Đang trộm xe thì bị phát hiện? Xe hơi ở góc đường có phát báo động. Bristow ghi chú ở đoạn này.
Cuối cùng là đoạn băng ghi hình một người da đen trông rất giống Người bỏ chạy đi dọc theo con đường gần Khu Gray’s Inn Square; cách hiện trường vài dặm ngay trong buổi sáng sau khi Landry chết. Mặt vẫn che kín, Bristow chú thích.
Strike dừng lại, dụi mắt rồi nheo lại đau đớn, sực nhớ ra chỗ bầm tím. Hắn đang ở trạng thái choáng váng không tỉnh táo báo hiệu cơ thể đã kiệt sức. Thở dài, rên hừ một tiếng, Strike tiếp tục đọc ghi chép của Bristow, bàn tay lông lá cầm sẵn một cây viết để đánh dấu.
Ở văn phòng luật in trên tấm danh thiếp sang trọng kia, ắt hẳn Bristow biết vận dụng luật pháp một cách khách quan và vô tư. Nhưng nội dung mớ ghi chép này càng củng cố suy nghĩ của Strike rằng ngoài đời, vị thân chủ của hắn có một nỗi ám ảnh mà chính ông ta cũng không giải thích được. Nguyên nhân có thể rất vô chừng, ông ta có lẽ luôn sợ mấy tay ông kẹ giang hồ, tội phạm da đen, hay là một điều gì đó sâu sắc, riêng tư hơn. Cho dù là gì đi nữa thì rất khó có chuyện cảnh sát không điều tra tới nơi tới chốn về Người bỏ chạy và tên đồng phạm (có lẽ đóng vai cảnh giới, có thể ăn trộm xe) và cảnh sát ắt hẳn có lý do chính đáng mới loại trừ hai tên này khỏi vòng nghi vấn.
Ngáp sái cả miệng, Strike lật tới trang thứ hai.
Lúc 1 giờ 45 phút sáng, Derrick Wilson, người bảo vệ trực hôm đó bị đau bụng nên phải chạy ngay vào nhà vệ sinh. Ông ta ngồi trong đó khoảng mười lăm phút. Do đó, mười lăm phút trước khi Lula chết, sảnh lễ tân của tòa nhà trống trơn, ai cũng có thể đi vào đi ra mà không bị phát hiện. Wilson chỉ ra khỏi nhà vệ sinh sau khi Lula rơi xuống, do nghe tiếng Tansy Bestigui la hét.
Khoảng thời gian này cũng là lúc vừa kịp cho Người bỏ chạy di chuyển đến khối căn hộ ở số 18 Kentigem Gardens, nếu xuất phát từ góc đường Alderbrook và Bellamy lúc 1 giờ 39' theo trên camera.
“Nhưng làm sao,” Strike thì thầm, bóp trán, “tên này có thể nhìn xuyên qua cửa trước tòa nhà để biết là bảo vệ không có ở đó mà đang ngồi cầu?”
Tôi đã nói chuyện với Derrick Wilson, ông ta sẵn sàng cho anh phỏng vấn.
Và tôi cá là anh có dúi tiền cho Wilson rồi luôn, Strike nghĩ, mắt nhìn số điện thoại của người bảo vệ dưới hàng chữ cuối cùng.
Strike đặt cây viết xuống bàn mà không ghi thêm gì, rồi kẹp ghi chép của Bristow vào hồ sơ. Rồi hắn tắt đèn, cà nhắc ra ngoài hành lang, tới phòng vệ sinh đi tè. Sau khi đánh răng trên cái bồn rửa mặt đã nứt nẻ, hắn khóa cửa gương lại, đặt đồng hồ báo thức và cởi đồ ngoài.
Trong ánh đèn đường từ ngoài cửa sổ, Strike tháo chân giả, xoa bóp chỗ cụt nhức nhối rồi cởi nốt lớp đệm mềm đã không còn tác dụng giảm đau. Hắn đặt chân giả ngay bên cạnh điện thoại đang sạc pin, lết người vào túi ngủ rồi gác tay sau đầu, nhìn lên tường. Giờ đây, đúng y như hắn lo lắng, sự rã rời của cơ thể vẫn không đủ làm đầu óc ngừng suy nghĩ. Vết thương cũ tái phát càng như tra tấn, dày vò hắn.
Không biết bây giờ cô ta đang làm gì?
Tối hôm qua, hắn còn sống trong một căn hộ đẹp đẽ, ở khu ngon lành nhất London, với người phụ nữ mà bất kỳ đàn ông nào trông thấy cũng phải ghen tị, thật như trong một thế giới khác.
“Tại sao anh không dọn vô ở với em? Trời ơi, Bluey, có gì đâu phải nghĩ? Tại sao không?”
Ngay từ đầu hắn đã biết đó là một sai lầm. Hai người từng thử ở chung trước đó, và mỗi lần thử mọi chuyện lại tệ hại hơn lần trước.
“Tụi mình đã đính hôn rồi, trời đất, tại sao anh không muốn sống chung với em?”
Cô ta nói ra những điều để chứng tỏ rằng sau khi hắn sém chết trận, cô ta đã thay đổi, hoàn toàn khác xưa, cũng như hắn giờ đây chỉ còn một cái chân rưỡi.
“Em không cần nhẫn nhiếc gì cả. Đừng có bày đặt, Bluey. Anh phải để dành tiền mà còn lo công việc.”
Hắn nhắm mắt lại. Không thể quay lại nữa, sau sáng nay. Cô ta từng nói dối quá nhiều lần về một chuyện vô cùng quan trọng. Nhưng hắn cứ nghĩ đi nghĩ lại, cứ như kiểm tra lại một phép tính đã làm xong, sợ mình mắc một lỗi cơ bản nào đó. Hắn thận trọng từ từ nghĩ lại chuyện Charlotte liên tục tính sai ngày tháng, thái độ khăng khăng không chịu đi gặp bác sĩ, rồi những cơn giận nảy lửa mỗi khi hắn hỏi thẳng. Đùng một cái cô ta tuyên bố “hết rồi”, mặc dù vẫn không đưa ra bằng chứng là trước đó “có gì” cả. Strike có khá nhiều kinh nghiệm đau thương từ thói chua ngoa của Charlotte, một người dường như luôn có nhu cầu khiêu khích, nhiếc móc và thử thách người khác.
“Anh đừng hòng giở trò điều tra với tôi. Anh đừng hòng đối xử với tôi như một tên thuộc cấp nghiện ngập của anh. Con này không phải là đối tượng điều tra của anh nhé, tôi cứ tưởng anh yêu tôi, vậy mà anh chẳng thèm tin lời tôi, thậm chí cả trong chuyện này…”
Nhưng những lời nói dối đã ăn sâu vào con người và cuộc sống của Charlotte. Chấp nhận yêu và sống với Charlotte cũng có nghĩa là dần dần ngập trong sự dối trá đó, luôn phải vừa đấu tranh với cô ta để có được sự thật vừa cố tỉnh táo trước thực tế. Tại sao, hắn, một kẻ từ nhỏ đã luôn có nhu cầu truy tìm sự thật, lúc nào cũng muốn biết chắc chắn, từ những việc nhỏ nhất, lại có thể yêu say đắm và dài lâu đến vậy một người phụ nữ có khả năng nói dối dễ dàng như người ta hít thở?
“Hết thật rồi.” Hắn tự nhủ. “Phải thế thôi.”
Nhưng hắn không muốn nói với Anstis, cũng không muốn nghĩ đến việc phải báo với ai khác, chưa đến lúc. Bạn của hắn ở khắp London sẽ mời hắn đến ở, họ sẵn lòng mở cửa phòng cho khách lẫn cửa tủ lạnh ra cho hắn, sẵn sàng an ủi và giúp đỡ hắn. Nhưng cái giá phải trả cho một cái giường êm ấm và những bữa cơm nhà là việc phải ngồi lại ở bàn ăn, sau khi bọn trẻ con tắm rửa sạch sẽ đã thay đồ đi ngủ, để kể đi kể lại ngày cuối cùng kinh hoàng với Charlotte, rồi để cho đám vợ và bạn gái của bạn hắn tha hồ thông cảm, tội nghiệp. So với cảnh đó, hắn thà ở một mình lạnh lẽo, ăn mì ly và ngủ trong túi ngủ thế này.
Hắn vẫn cảm thấy phần chân đã mất của mình dù chuyện đã cách nay hai năm rưỡi. Cái chân phải vô hình nằm trong túi ngủ; cứ như hắn có thể duỗi ngón chân cái tưởng tượng nếu muốn. Mệt như vậy nhưng mãi một lúc sau Strike mới ngủ được, và thậm chí khi hắn đã ngủ, Charlotte vẫn đi ra đi vào mỗi giấc mơ, quyến rũ, chửi rủa và ám hắn như ma.