CHƯƠNG 13

     trike từng ngồi đếm số trường mà hắn đã học qua lúc nhỏ, khoảng 17 trường, nhưng hắn ngờ ngợ hãy còn thiếu. Hắn không tính vào đó hai tháng “giáo dục tại gia” khi ba mẹ con hắn sống trong một căn nhà bỏ hoang trên phố Atlantic ở Brixton. Bạn trai của mẹ hắn lúc đó là một nhạc sĩ da trắng theo phong trào Rastafari, có tên tự đặt là Shumba. Ông này cho rằng trường lớp chỉ củng cố những giá trị gia trưởng và vật chất, phải tránh xa ngay không thì hư hết con cái. Trong hai tháng đó Strike chỉ học được một điều duy nhất: cứ hút cỏ thì người ta trở nên trì độn và hoang tưởng, ngay cả khi hút theo kiểu tâm linh.
Strike rẽ qua chợ Brixton trên đường đi gặp Derrick Wilson. Mùi cá tươi từ các sạp có mái che, những hàng quán đầy màu sắc, ăm ắp các thể loại rau củ và trái cây nhập từ châu Phi và vùng Caribe; hàng thịt của người Hồi giáo, tiệm hớt tóc với những tấm hình chụp các kiểu tết và uốn tóc cầu kỳ, những chiếc đầu bằng xốp đội tóc giả xếp thành hàng bên cửa sổ: tất cả đưa Strike về hai mươi sáu năm trước đó, khi hắn và em gái Lucy tha hồ đi lang thang khắp đường phố Brixton trong khi mẹ và Shumba nằm gà gật trên đám gối ôm dơ bẩn ở căn nhà bỏ hoang, mơ hồ thảo luận những khái niệm tâm linh phức tạp để dạy con.
Lucy khi đó mới bảy tuổi, rất thích kiểu tóc của các cô gái Caribe. Khi cậu Ted và mợ Joan đón hai đứa từ Brixton đưa về St Mawes, Lucy ngồi ghế sau trên chiếc xe Morris Minor của cậu mợ, miệng không ngớt đòi được tết tóc có xâu hạt. Strike còn nhớ mợ Joan ra vẻ bình tĩnh đồng ý với Lucy rằng kiểu tóc đó rất xinh, mặt dù qua kính chiếu hậu, hắn thấy mợ đang nhíu mày. Mợ Joan luôn cố tránh chê bai mẹ của Strike trước mặt hai an hem hắn, nhưng càng về sau thì càng thất bại. Strike không biết cậu Ted tìm ra mấy mẹ con hắn bằng cách nào, hắn chỉ nhớ một buổi chiều hai anh em chui vào căn nhà hoang thì đã thấy ông cậu to lớn đứng ngay giữa phòng, dọa đánh dập mũi Shumba. Trong hai ngày sau, hai anh em được đưa về St Mawes, trở lại trường tiểu học cũ, gặp lại bạn bè như chưa bao giờ bỏ đi, và nhanh chóng mất đi giọng địa phương mà chúng vừa kịp bắt chước.
Hắn không cần đọc hướng dẫn chỉ đường mà Derrick Wilson chuyển cho Robin. Hắn biết quá rõ quán Phoenix ở phố Coldharbour. Ngày trước thỉnh thoảng Shumba và mẹ vẫn dẫn hai anh em đến đây: một cái quán nhỏ sơn màu nâu, giống như nhà kho trong vườn. Tại đó (nếu không phải ăn chay như mẹ và Shumba) hắn được ăn những bữa sáng nóng sốt to dùng, với trứng chiên và thịt muối chồng lên nhau và uống trà sữa màu gỗ tếch. Mọi thứ y như hắn vẫn nhớ: ấm cúng, nhỏ gọn và hơi cáu bẩn, những tấm gương trên tường phản chiếu dãy bàn ăn bằng gỗ giả dán Formica, gạch lát nền màu trắng đỏ đã đốm xỉn, trần nhà màu trắng đục như bột báng dán phủ giấy dán tường mốc meo. Một người phụ nữ chạy bàn tuổi trung niên mập lùn, tóc ngắn duỗi thẳng, đeo bông tai nhựa màu cam lúc lắc đứng sang một bên nhường đường cho Strike đi qua.
Một người đàn ông gốc Caribe to lớn ngồi một mình ở bàn ăn, đọc báo The Sun, ngay trên đầu ông có treo một cái đồng hồ quảng cáo bánh Pukka Pies.
“Derrick?”
“Dà…, anh Strike?”
Strike bắn tay Wilson, bàn tay ông ta to và khô ráp. Hắn ngồi xuống. Hắn đoán Wilson cũng phải cao gần bằng hắn. Cơ bắp và mỡ căng lên dưới tay áo len đồng phục của Wilson. Tóc ông ta cạo sát đầu, râu ria cũng được cạo sạch sẽ, mắt thuôn dài hình hạt hạnh nhân. Strike gọi món bánh nhân thịt và khoai tây nghiền từ thực đơn treo trên tường, thấy dễ chịu khi nghĩ giờ đây hắn có thể trừ bốn bảng bảy lăm xu vào công tác phí.
“Ờ, bánh với khoai tây nghiền ở đây ngon,” Wilson nói.
Wilson nói giọng London, có pha chút ngữ điệu Caribe. Giọng ông ta trầm, điềm đạm và chừng mực. Strike nghĩ ông này làm bảo vệ sẽ khiến cho người ta yên tâm.
“Cảm ơn anh đã bỏ thời giờ đến đây. Tôi rất cảm kích. John Bristow không hài lòng với kết quả điều tra vụ em gái ông ta. Ông ta thuê tôi để xem lại chứng cứ vụ án.”
“Dà,” Wilson nói “Tui biết rồi.”
“Bristow trả anh bao nhiêu tiền để nói chuyện với tôi?” Strike hỏi tự nhiên như không.
Wilson nháy mắt, rồi khoái trá cười khùng khục, có vẻ hơi tội lỗi.
“Hai xị rưỡi,” ông ta đáp. “Nhưng nếu làm vậy mà ổng thấy an ủi thì cũng được, anh hiểu không? Chả thay đổi được giề". Cổ tự xát. Nhưng anh cứ hỏi. Tui chả có phiền chi.”
Wilson gấp tờ The Sun lại. Trang nhất báo có hình Thủ tướng Gordon Brown mệt mỏi, hai mắt đều có bọng.
“Chắc anh đã làm việc với bên cảnh sát rồi,” Strike vừa nói vừa mở cuốn sổ ra đặt bên cạnh đĩa, “nhưng sẽ rất có ích nếu anh kể lại sự việc hôm đó.”
“Dà, được mà. Chút xíu nữa có khi có thêm Kieran Kolovas-Jones,” Wilson nói thêm.
Có vẻ như Wilson nghĩ Strike biết người đó là ai.
“Ai kia?” Strike hỏi.
“Kieran Kolovas-Jones. Tài xế của Lula. Nó cũng muốn nói chuyện với anh.”
“OK, hay quá,” Strike nói. “Khi nào anh ấy tới?”
“Tui không biết. Nó đang đi làm. Rảnh thì nó tạt qua.”
Người chạy bàn đặt tách trà xuống trước mặt Strike. Hắn cảm ơn bà ta rồi bấm viết. Trước khi hắn kịp hỏi, Wilson lại nói:
“Ông Bristow có kể hồi trước anh ở lính.”
“Vâng” Strike đáp.
“Cháu tui đang ở Afghanistan,” Wilson nói, nhấm một hớp trà. “Tỉnh Helmand.”
“Đơn vị nào?”
“Thông tin,” Wilson trả lời.
“Cậu ấy ở đó lâu chưa?”
“Bốn tháng. Mẹ nó vẫn không ngủ được.” Wilson tiếp. “Tại sao anh về?”
“Bị bom nổ cụt chân,” Strike trả lời, thành thật khác thường.
Đó chỉ là một phần của sự thật, nhưng là phần dễ nói nhất với người lạ. Thực ra nếu muốn hắn cũng có thể ở lại quân đội; họ rất muốn giữ hắn; nhưng mất đi cái chân chỉ là giọt nước cuối cùng tràn ly, hắn đã nghĩ tới việc giải ngũ trong mấy năm trở lại đây. Hắn biết giới hạn của mình, nếu ở lâu hơn nữa hắn sẽ rất khó rời khỏi quân đội và trở lại cuộc sống bình thường. Môi trường quân đội nhào nặn con người ta qua năm tháng, dần dần khiến người ta lúc nào cũng biết tỏ ra tuân lệnh, một tính cách cần thiết trong quân ngũ. Strike trưa bao giờ hoàn toàn hòa nhập hẳn và quyết định ra đi trước khi điều đó xảy ra. Ngay cả vậy, hắn vẫn nhớ về Cục điều tra đặc biệt SIB với nhiều tình cảm, không hề bị ảnh hưởng gì bởi chuyện cụt chân. Hắn ước gì cũng có thể nhớ về Charlotte một cách đơn giản như vậy.
Wilson nghe Strike giải thích, khẽ gật đầu.
“Xui thiệt,” ông ta bình luận, giọng trầm.
“Chẳng là gì so với nhiều người khác.”
“Ừ. Một đứa trong trung đội cháu tui mới bị bom nổ bay xác hai tuần trước.”
Wilson nhấm thêm một ngụm trà.
“Anh có thân quen gì với cô Lula Landry không?” Strike hỏi, cây viết cầm sẵn. “Anh có hay gặp cô ấy không?”
“Thì đi ra đi vô đụng mặt vậy thôi. Lúc nào cổ cũng chào hỏi, cảm ơn, lễ độ hơn nhiều so với mấy ông bà có tiền khác,” Wilson nói ngắn gọn. “Lần nói chuyện dài nhất là nói về Jamaica. Cổ định nhận một việc ở đó; cổ hỏi tui nên ở đâu, Jamaica ra làm sao. Tui từng nhờ cổ ký một cái thiệp để gởi qua Afghanistan cho thằng Jason. Chỉ ba tuần trước khi cổ mất. Sau đó mỗi khi gặp tui là cổ luôn hỏi Jason sao rồi, tui thích cổ ở chỗ đó, anh hiểu không? Tui làm bảo vệ lâu lắm rồi. Người ta  luôn nghĩ là anh phải đưa lưng lãnh đạn cho họ, nhưng không thèm nhớ tới tên anh. Ờ, cổ rất được.”
Bánh nhân thịt và khoai tây của Strike mới được đem ra, nóng bốc khói. Cả hai im lặng trong một giây, kính nể nhìn cái đĩa tú hụ thức ăn. Nước miếng túa ra đầy miệng. Strike cầm dao và nĩa lên, nói tiếp:
“Giờ anh kể lại chuyện đêm đó được không? Cô Lula có đi ra ngoài đúng không, lúc đó mấy giờ?”
Ông bảo vệ gãi cánh tay, mặt mày suy tư, rồi kéo tay áo lên. Strike thấy mấy hình xăm thập giá và tên viết tắt.
“Chắc khoảng đâu bảy giờ hơn. Cổ đi với Ciara Porter. Tui nhớ chớ, tại lúc họ đi ra khỏi cửa là ông Bestigui đi vô. Tui nhớ vì ổng có nói gì đó với Lula. Tui không nghe rõ lắm. Cổ có vẻ không thích. Nhìn mặt cổ tui biết vậy.”
“Mặt cổ ra sao?”
“Giống kiểu bị xúc phạm,” Wilson nói, cứ như đã sẵn câu trả lời. “Trên màn hình tui thấy hai người đi vô xe. Tòa nhà có lắp camera ngay cửa, nối với màn hình trên bàn tui nên ai bấm chuông tụi tui đều biết.”
“Còn băng không? Tôi xem băng được không?”
Wilson lắc đầu.
“Ông Bestigui không thích vậy. Không được ghi băng gì cả. Ổng là người đầu tiên mua nhà trước khi họ xây xong nên ổng có thể đòi cái này cái nọ.”
“Như vậy cái camera giống như một cái lỗ nhìn trộm xịn thôi hả?”
Wilson gật đầu. Trên mặt Wilson có một vết sẹo mỏng từ mắt trái đến ngay giữa má.
“Đúng vậy. Xong rồi tui thấy hai cô đi vô xe. Hôm đó Kieran không có lái xe cho hai cổ vì nó phải đi đón Deeby Macc.”
“Vậy hôm đó ai lái xe?”
“Một cậu tên là Mick, từ bên công ty Execars, cũng từng lái cho Lula rồi. Tôi thấy mấy đứa phóng viên bao quanh cái xe hơi, ngay lúc xe sắp chạy. Phóng viên chầu chực ở đó cả tuần vì biết là cô Lula mới quay lại với Evan Duffield.”
“Bestigui làm gì sau khi Lula và Ciara đi khỏi?”
“Ổng tới chỗ tui lấy thư rồi lên cầu thang về nhà ổng.”
Strike liên tục phải bỏ nĩa xuống sau mỗi miếng để ghi chép.
“Sau đó có ai ra vào nữa không?”
“Có, mấy người phục vụ ăn uống – hôm đó nhà Bestigui đãi khách. Một cặp người Mỹ tới khoảng sau tám giờ, đi thẳng lên căn hộ số một của Bestigui. Sau đó không ai ra vô gì nữa cho tới khi đám đó về, khoảng nửa đêm. Xong rồi tui cũng không thấy ai nữa tới khi Lula về nhà, khoảng một rưỡi sáng.
“Tui nghe mấy đứa phóng viên kêu tên cổ bên ngoài. Khi đó đông đen. Một đám đi theo cổ về từ hộp đêm, thêm một đám đứng chực từ trước chờ Deeby Macc. Nghe nói anh ta mười hai rưỡi về tới nơi. Lula bấm chuông, tui bấm nút mở cửa cho cổ vô.”
“Cô ấy không dùng khóa mật mã à?”
“Không tại lúc đó có nhiều người, cô muốn đi vô cho lẹ. Họ cứ hét lên, đổ dồn hết về phía cổ.”
“Tại sao cổ không đi vô theo bãi đậu xe dưới tầng hầm, như vậy thì tránh được hết?”
“Ừa, nhiều khi cổ đi kiểu vậy, nếu Kieran lái vì cổ có đưa cái chìa khóa cổng vô đó cho nó. Nhưng Mick thì không có, nên phải dừng ngay trước cửa.”
“Tui chào cổ, rồi hỏi bộ ngoài trời tuyết rơi dữ hả, tại trên tóc cổ dính tuyết, cô run cầm cập tại mặc cái đầm chút xíu. Cổ nói lạnh muốn đông đá, hay đại loại thế. Rồi cổ nói, “Ước gì tụi nó biến mẹ cho rồi. Tụi nó tính đứng đó suốt đêm hay sao?” Ý cổ nói bọn phóng viên. Tui kêu tụi nó đang đợi Deeby Macc; nghe là về trễ. Trông cổ có vẻ bực bội. Rồi cổ vô thang máy và đi lên nhà.”
“Trông bực bội?”
“Ừm rất bực.”
“Bực kiểu sắp tự tử?”
“Không.” Wilson đáp “Kiểu giận dữ.”
“Rồi sao nữa?”
“Rồi,” Wilson tiếp, “Tui phải đi ra sau. Bụng tui bắt đầu sôi lên. Tui phải đi cầu. Rất gấp, anh biết không. Chắc tui bị giống như Robson. Nó cũng bị đau bụng. Tôi đi khỏi khoảng mười lăm phút. Không ráng được. Chưa bao giờ tui đau bụng tới vậy.
“Tui vẫn ngồi trong cầu lúc có tiếng người. Không,” Wilson tự sửa, “đầu điên là nghe rầm một cái. Nghe từ xa. Sau này tui nghĩ lại đó hẳn là tiếng cô Lula rớt xuống.
“Xong rồi mới có tiếng người, mỗi lúc một to, vọng xuống cầu thang. Tui kéo quần lên rồi chạy ra đại sảnh, bà Bestirui đang ở đó, chỉ mặc mỗi đồ lót, người run cầm cập, la hét quay quắt như mụ khùng. Bả nói cô Lula chết rồi, bị xô té xuống ban công, bị ông nào đó ở trên kia xô xuống.
“Tui kêu bả cứ ở yên đó, tui chạy ra cửa trước. Tui thấy cô Lula. Cổ nằm trên đường, mặt úp xuống tuyết.”
Wilson tợp thêm một ngụm trà, rồi ôm nguyên cái tách, nói tiếp:
“Một nửa đầu cô Lula vùi trong tuyết. Máu chảy ra. Tui thấy cổ bị gãy cổ. Và bị xịt… ừm.”
Tự nhiên lúc đó Strike cảm giác như ngửi thấy mùi não người, ngọt gắt và không lẫn vào đâu được. Hắn từng ngửi thấy mùi đó nhiều lần. Không sao quên được.
“Tui chạy ngược vô trong,” Wilson kể tiếp. “Cả hai ông bà Bestigui đang ở sảnh, ổng đang cố lôi bả lên lầu, trùm áo cho bả, bả thì vẫn la lối um sùm. Tui kêu hai người đi gọi cảnh sát và coi chừng thang máy; lỡ thủ phạm có chạy xuống.
“Tui chạy ra sau lấy chìa khóa chủ rồi chạy lên lầu. Trên cầu thang không có ai hết. Tui mở cửa vô nhà cô Lula…”
“Tại sao lúc đó anh không mang theo cái gì để tự vệ?” Strike cắt ngang. “Nếu anh nghĩ trong nhà cô Lula có ai đó? Lại vừa giết cổ xong?”
Im lặng. Không ai nói gì một lúc lâu.
“Tui không nghĩ là tui cần gì hết,” Wilson đáp. “Cứ nghĩ có gì tui chơi nó tay không luôn, không thành vấn đề.”
“Chơi ai?”
“Duffield,” Wilson nói nhanh. “Tui nghĩ Duffield đang ở trên đó.”
“Tại sao?”
“Tui nghĩ chắn hắn đi vô lúc tui đang ngồi cầu. Hắn biết mật mã khóa. Tui đoán chắc hắn chạy lên lầu, cô Lula mở cửa cho hắn vô. Tui có nghe hai người cãi lộn rồi. Tôi từng nghe hắn la hét giận dữ. Ừm. Nên tui nghĩ chắc hắn xô cổ té.
“Nhưng khi chạy lên nhà cô Lula, tui thấy trống trơn. Tui đi tìm mỗi phòng, không có ai hết. Tui còn mở cả tủ quần áo ra nữa, cũng không có gì.
“Cửa sổ phòng khách mở toang. Hôm đó trời lạnh dưới không. Tui không đóng cửa sổ lại, không đụng vô cái gì hết. Tui bước ra rồi bấm nút thang máy. Cửa thang máy mở liền, vì vẫn còn đứng ở tầng của cô Lula. Trong thang không có ai hết.
“Tui chạy xuống dưới nhà. Ông bà Bestigui đã trở vô nhà họ, khi tui đi ngang qua, tui vẫn nghe tiếng họ, bả vẫn la lối um sùm còn ổng thì la bả. Tui không biết họ gọi cảnh sát chưa. Tui chụp máy di động trên bàn trực rồi đi ra ngoài, đứng với cô Lula vì… tui không muốn cổ nằm đó một mình. Tui đang tính gọi cảnh sát, coi thử họ tới chưa. Nhưng chưa kịp bấm số chín thì đã nghe thấy tiếng còi hụ. Tới lẹ thiệt.”
“Chắc ông bà Bestigui gọi?”
“Ừm. Ổng gọi. Hai cảnh sát đi xe trắng đen.”
“OK,” Strike nói. “Tôi muốn làm rõ một điểm: anh tin bà Bestigui nói thật khi bà ta kể là có người trong nhà cô Lula?”
“Ờ,” Wilson đáp.
“Vì sao?”
Wilson khẽ nhíu mày, suy nghĩ. Mắt ông ta nhìn ra phía đường phố sau vai Strike.
“Lúc đó bà ta vẫn chưa nói chi tiết gì đúng không?” Strike hỏi. “Bà ta không kể là đang làm gì khi nghe tiếng người la? Không giải thích là vì sao hai giờ sáng mà bà ta còn thức?”
“Không,” Wilson đáp. “Bả không giải thích gì cả. Chỉ là cái kiểu của bả lúc đó, anh biết không. Rất là kích động. Run như chó bị mắc mưa. Bả cứ nói đi nói lại 'Có người trên lầu, hắn ném cô ta xuống.' Bả sợ lắm.
“Nhưng không có ai trên đó hết; tui có thể lấy đám con tui ra thề với anh như vậy. Nhà cô Lula trống trơn, thang máy cũng trống, cầu thang cũng không có ai. Nếu có người thật thì sau đó hắn ta đi đâu?”
“Khi cảnh sát tới,” Strike nói tiếp, quay lại với hiện trường đường phố tuyết rơi tối đen và thi thể đã bị dập nát. “Thì sao?”
“Khi bà Bestigui thấy xe cảnh sát qua cửa sổ, bả chạy thẳng xuống nhà, vẫn mặc áo ngủ, ông chồng chạy theo sau. Bả ra đường, đứng giữa tuyết tiếp tục la lối là có sát thủ trong tòa nhà.
“Lúc đó chúng quanhg bật hết đèn lên. Ai cũng đứng cửa sổ nhìn ra. Nửa khu phố thức dậy. Người ta ra đứng đầy vỉa hè.
“Một ông cảnh sát đứng lại chỗ cô Lula, rút bộ đàm ra gọi thêm người, còn ông kia thì đi với tụi tui; tui với hai vợ chồng ông bà Bestigui trở vô trong tòa nhà. Ổng biểu hai ông bà đó về lại nhà ngồi đợi, rồi ổng kêu tui dẫn đi kiểm tra khắp tòa nhà. Tụi tui đi trở lên tầng trên; tui mở cửa nhà cô Lula, cho ổng coi, chỉ luôn cửa sổ mở toang hoang. Ổng coi hết một lượt. Tui dẫn ổng ra chỗ thang máy, vẫn còn đứng trên tầng ba. Rồi tụi tui đi xuống cầu thang. Ổng hỏi tui về căn hộ tầng hai, vậy là tui mở cho ổng coi luôn vì tui có chìa chủ.
“Ở trong tối thui, báo động kêu lên khi hai tụi tui đi vô. Tui chưa kịp tìm công tắc đèn hay tắt báo động thì ông cảnh sát đâm sầm vô cái bàn giữa nhà, đánh đổ bình hoa hồng to bự chảng. Mảnh chai, nước, hoa lá văng tùm lum trên sàn. Vụ này sau đó cũng nhức đầu lắm…
“Tụi tui kiểm tra hết. Trống trơn, tất thảy tủ kệ, tất cả các phòng, cửa sổ đóng chặt, có chốt. Rồi tụi tôi trở xuống sảnh dưới.”
“Lúc đó thì cảnh sát mặc thường phục tới. Họ muốn có chìa khóa vô phòng tập thể dục, bể bơi với cả bãi đậu xe ở tầng hầm. Một ông cảnh sát đi lấy lời khai của bà Bestigui, một ông nữa chạy ra ngoài, gọi thêm người, vì chung quanh hàng xóm đổ ra đầy đường, hết nửa đang gọi điện thoại, có mấy người chụp hình búa xua. Cảnh sát đồng phục kêu gọi họ đi trở vô nhà. Lúc đó tuyết cứ rơi miết, dày lắm.
“Xong rồi họ dựng một cái lều ngay chỗ cô Lula, mấy người bên pháp y tới. Báo chí cũng vừa tới. Cảnh sát niêm phong hết nửa khu phố, quay ngang xe chặn lối.”
Strike đã làm sạch sẽ đĩa thức ăn. Hắn đẩy đĩa qua một bên, gọi thêm trà cho cả hai rồi cầm cây viết lên lại.
“Có bao nhiêu người làm việc ở tòa nhà số 18?”
“Ba bảo vệ, tui, Colin McLeod và Ian Bobson. Tụi tui làm việc theo ca, lúc nào cũng có người trực tòa nhà. Đáng ra đêm hôm đó tui không có ca trực nhưng Robson gọi điện khoảng bốn giờ chiều, kêu là bị đau bụng, không đi làm được. Vậy là tui nói thôi để tui ở lại đó làm tiếp ca nữa luôn. Tháng trước nó đổi ca một lần với tui khi tui có việc nhà. Nên tui nợ nó.
“Đáng ra tui không có mặt ở đó,” Wilson nói, và trong giây lát ông ta ngồi im, suy tư về những ngã rẽ khác nhau của mọi sự trên đời.
“Hai bảo vệ kia với cô Lula có OK không?”
“Dà, anh hỏi họ thì họ cũng sẽ nói y như tui thôi. Cổ dễ thương mà.”
“Còn ai làm ở đó nữa không?”
“Có mấy đứa quét dọn người Ba Lan. Tụi nó nói tiếng Anh tệ lắm. Anh có hỏi cũng không ra được gì đâu.”
Strike vừa nghĩ vừa viết nhanh trong cuốn sổ SIB – (hắn đã kịp chôm một mớ sổ trong lần trở lại Aldershot). Lời khai của Wilson có chất lượng cao khác thường: ngắn gọn, chính xác và chi tiết. Rất ít người trả lời thẳng vào câu hỏi như vậy; lại càng hiếm ai biết sắp xếp suy nghĩ trước khi trả lời, không cần phải hỏi dò thêm. Strike đã quen với việc đào xới trong ký ức đau khổ của người khác, giống như một nhà khảo cổ đào đám gạch vụn. Hắn từng lấy được lòng tin của những tay giang hồ, biết hù dọa những người đang sợ chết khiếp, ra mồi nhử những đối tượng nguy hiểm và đặt bẫy được cả những kẻ cực kỳ khôn khéo. Tất cả những kỹ năng đó đều không cần thiết áp dụng với Wilson, thật là phí phạm với một cuộc điều tra vô nghĩa, chỉ để thoả mãn sự hoang tưởng của John Bristow.
Tuy vậy Strike luôn làm việc hết sức kỹ lưỡng, một thói quen không bao giờ suy suyển. Hắn không thể phỏng vấn qua loa, cũng như không thể nằm ườn trên giường hút thuốc nguyên một ngày. Một phần là bản tính, một phần qua rèn luyện, hắn nghiêm túc với bản thân, cũng như với khách hàng. Hắn tiếp tục hỏi, một cách tỉ mỉ cẩn thận, đấy cũng là lý do khiên hắn vừa được trọng dụng vừa bị ghét bỏ khi còn trong quân ngũ.
“Ta trở lại một chút vào ngày trước khi cô Lula chết. Hôm đó anh đi làm mấy giờ?”
“Chín giờ, hôm nào cũng vậy. Tới nơi thì bàn giao với Colin.”
“Anh có sổ ghi lại người ra vào tòa nhà không?”
“Có, ai ra vô gì tụi tui cũng ghi hết, trừ người ở trong tòa nhà. Có một cuốn như vậy ở ngay trên bàn bảo vệ.”
“Anh có nhớ hôm đó có ai đi ra vào không?”
Wilson chần chừ.
“John Bristow có đến gặp em gái vào buổi sáng sớm, đúng không?” Strike hỏi dò. “Nhưng Lula có dặn trước là không cho ông ta lên?”
“Ổng kể với anh vậy hả?” Wilson hỏi, trông đỡ căng thẳng hơn.
“Cổ có dặn vậy. Nhưng tui thấy tội nghiệp ổng quá, anh thấy đó? Ổng đem hợp đồng gì đó cho cổ; ổng có vẻ lo lắng, nên tui để ổng đi lên.”
“Còn ai đi vào nữa không?”
“Còn Lechsinka có mặt ở đó sẵn. Một trong mấy đứa quét dọn. Nó luôn tới lúc bảy giờ sáng; khi tui tới thì nó đang lau cầu thang. Không ai vô nữa cho tới khi có một người bên công ty bảo vệ qua, để bảo trì máy báo động. Cứ sáu tháng thì phải làm một lần. Tay đó tới lúc khoảng chín giờ bốn mươi, cỡ đó?”
“Ông quen người này hả, cái người từ công ty bảo vệ đó?”
“Không, người mới mà. Trẻ lắm. Lần nào họ cũng cử người khác nhau tới. Khi đó bà Bestigui và cô Lula còn ở trong nhà nên tui mở cửa cho nó vô căn hộ tầng giữa trước, chỉ chỗ hộp điều khiển rồi để nó làm. Trong khi tui đứng đó, chỉ hộp cầu chì với nút báo động khẩn cho nó thì cô Lula đi ra ngoài.”
“Anh thấy cô ấy đi ra hả?”
“Có thấy, cổ đi ngang qua căn hộ số hai, lúc đó cửa mở.”
“Cô Lula có chào anh không?”
“Không.”
“Anh nói cô ấy lúc nào cũng chào hỏi mà?”
“Tui nghĩ lúc đó cô Lula không thấy tui. Trông cổ có vẻ vội vàng. Cổ đi thăm bà già bị ốm.”
“Tại sao cổ không nói mà anh biết?”
“Có trong kết quả điều tra,” Wilson đáp ngắn gọn. “Sau khi tui chỉ chỗ mọi thứ cho tay bảo trì, tui đi trở xuống. Khi bà Bestigui đi ra khỏi nhà thì tui kêu nó vô làm nhà bả luôn. Nó không cần tui ở lại chỉ dẫn gì nữa vì vị trí hộp cầu chì và nút báo động của các căn hộ đều giống y nhau.”
“Lúc đó ông Bestigui ở đâu?”
“Ổng đi làm rồi. Tám giờ là đi, sáng nào cũng vậy.”
Ba người đàn ông đội mũ bảo hộ, mặc áo dạ quang màu vàng bước vào quán và ngồi xuống ở bàn bên cạnh, dưới tay kẹp theo mấy tờ báo, giầy ủng dính đầy bùn đất.
“Mỗi lần anh chạy đi mở cửa cho cái người bảo trì mất khoảng bao lâu?”
“Khoảng năm phút trong căn hộ số hai,” Wilson nói. “Hai căn hộ còn lại thì chỉ mất khoảng một phút mỗi căn.”
“Người đó xong việc lúc mấy giờ?”
“Khoảng gần trưa. Tui không nhớ chính xác.”
“Nhưng anh chắc là anh ta đi khỏi?”
“Ờ đúng.”
“Còn ai tới nữa không?”
“Có mấy người giao hàng, nhưng bữa đó tính ra khá yên tĩnh so với mấy ngày trước đó.”
“Trước đó thì bận rộn lắm à?”
“Ờ, nhiều người đi ra đi vô, do Deeby Macc từ LA sắp tới. Mấy người từ bên hãng liên tục tới căn hộ số Hai, chuẩn bị sẵn sàng, mua đồ để sẵn tủ lạnh nữa.”
“Anh nhớ hôm đó giao hàng những gì không?”
“Thùng đồ cho Macc và Lula. Bình hoa hồng nữa, tui phải giúp một tay khiêng lên lầu vì bình hoa quá bự,” Wlison dang tay, môt tả bình hoa, “cái bình bự như vầy, tụi tui đặt trên bàn trong phòng khách ở căn hộ số Hai. Đó là cái bình hoa bị anh cảnh sát làm vỡ.”
“Anh nói vụ này sau đó rất nhức đầu, là sao?”
“Hoa đó là của ông Bestigui gởi tặng Deeby Macc, nên khi nghe bình hoa tan tành ổng tức điên. La lối um sùm.”
“Lúc nào kia?”
“Khi cảnh sát vẫn còn ở đó. Lúc họ đang lấy lời khai của bà vợ.”
“Vừa có người chết rơi ngang qua cửa sổ nhà ông ta, mà ông ta lại đi bực chuyện bình hoa bị bể?”
“Ừa,” Wilson đáp, khẽ nhún vai. “Ổng là vậy đó.”
“Ông ta có quen với Deeby Macc không?”
Wilson nhún vai cái nữa.
“Deeby Macc có tới đó lần nào chưa?”
Wilson lắc đầu.
“Sau vụ đó ổng chuyển thẳng tới khách sạn.”
“Anh mất bao lâu để giúp người giao hàng khiêng bình hoa vô căn hộ số hai?”
“Chừng năm phút, mười phút là nhiều. Sau đó tui ngồi trực bàn cả ngày.”
“Anh có nói là có thùng đồ gởi cho Macc và Lula.”
“Có, từ một tay thiết kế nào đó, nhưng tui đưa cho Lechsinka đem lên. Áo quần cho Macc và túi sách cho cô Lula.”
“Và anh nhớ tất cả những người đi vào hôm đó đều đi trở ra?”
“Đúng rồi,” Wilson nói. “Tất cả đều ghi lại trong sổ trên bàn.”
“Bao lâu thì phải đổi mật mã khóa?”
“Sau khi cô Lula chết thì phải đổi, vì mã cũ hầu như một nửa cảnh sát ở London đều biết,” Wilson nói. “Nhưng trong suốt ba tháng cô Lula ở đó thì không thay đổi gì.”
“Anh nói tôi biết mật mã là gì được không?”
“Một chín sáu sáu,” Wilson đáp.
Họ cứ tưởng đã an bài”?[1]
[1.“They think it’s all over”: một câu nói rất nổi tiếng ở Anh, từ câu gốc “They think it’s all over… It’s now! It’s four” (Họ tưởng là đã an bài. Giờ mới thực là xong! Bốn bàn!), trích từ lời của bình luận viên Kenneth Wolstenholme trong những phút cuối cùng của trận trung kết World Cup năm 1966 giữa Anh và Tây Đức, ngay sau khi Geoff Hurst ghi bàn, ấn định tỉ số 4-2 cho đội Anh. – ND]
“Đúng vậy,” Wilson nói. “McLeod rất khó chịu với mật mã đó, cứ đòi đổi miết.”
“Anh nghĩ có bao nhiêu người biết mật mã khóa cửa trước khi Lula chết?”
“Không nhiều lắm”
“Mấy người giao hàng? Nhân viên bưu điện? Người đọc công tơ khí đốt?”
“Mấy người như vậy thường bấm chuông, rồi tụi tui mới bấm nút mở cửa cho vô. Người trong nhà thì cũng không thường dùng, vì tụi tui ngồi đó thấy hết ai sắp vô, nên luôn mở cửa trước cho họ. Khóa mật mã là để trừ trường hợp không có ai ngồi ở bàn trực; ví dụ như khi bảo vệ đi ra đằng sau hay chạy lên lầu.”
“Mỗi căn hộ đều có chìa khóa riêng?”
“Ờ, có hệ thống báo động riêng nữa.”
“Hệ thống báo động trong nhà cô Lula hôm đó có bật lên không?”
“Không.”
“Còn bể bơi và phòng tập thể dục thì sao? Mấy chỗ đó có gắn báo động không?”
“Chỉ có chìa khóa thôi. Người trong tòa nhà đều có chìa khóa bể bơi và phòng tập, kèm với chìa khóa căn hộ. Thêm một chìa khóa nữa mở cửa ra bãi đậu xe dưới tầng hầm. Cửa này thì có báo động.”
“Báo động có được bật lên không?”
“Không biết, tui không có đó lúc họ kiểm tra. Nhưng chắc có bật. Tay bên công ty bảo vệ có kiểm tra tất cả báo động sáng hôm đó.”
“Tối hôm đó tất cả các cửa đều đóng?”
Wilson ngập ngừng.
“Không phải cái nào cũng đóng. Cửa ra bể bơi còn mở.”
“Có ai dùng bể bơi hôm đó không?”
“Tôi không nhớ.”
“Vậy cửa mở trong bao lâu?”
“Tôi không biết. Colin trực tối hôm trước đó, đáng ra hắn phải kiểm tra.”
“OK,” Strike nói. “Anh nghĩ cái người mà bà Bestigui nghe thấy là Duffield, vì anh có nghe cô Lula và Duffield cãi nhau trước đó? Khi nào vậy?”
“Trước khi họ chia tay, khoảng cỡ hai tháng trước khi cổ chết. Cổ đuổi Duffield ra khỏi nhà, hắn đập rầm rầm lên cửa, đá vào cửa, tìm cách phá, gọi cổ bằng đủ thứ tên bậy bạ. Tui đi lên lầu đuổi hắn ra.”
“Anh có phải kéo hắn không?”
“Không cần. Khi hắn thấy tui hắn lượm hết đồ đạc lên – trước đó cổ vứt áo khoác và giày hắn ra ngoài – rồi đi xuống qua mặt tui. Hắn đang say thuốc,” Wilson nói thêm. “Mắt long lên, anh biết đó, mồ hôi vã ra. Mặc áo thun rất gớm in đủ thứ hình bà rằn. Tui chẳn hiểu vì sao cổ ưa hắn được.
“Kieran tới rồi,” Wilson nói tiếp. Giọng nhẹ hẳn. “Tài xế của Lula.”