CHƯƠNG 30
ĐẤT THÁNH LƯU DANH

Dương Phong cứ chết người đi, nhìn bạn. Khuôn mặt thư thái trong bữa cơm cuối cùng bị vò nhầu, làn da nhăn nhúm còn đôi mắt không khép nổi. Một nỗi đau xé đến trong chớp nhoáng ném linh hồn vào cõi hư vô. Toàn thân Dương Phong run rẩy dữ dội. Trình Vĩ đã hình dung ra cảnh kẻ đối diện gào thét vì quá sợ hãi, quỳ xuống đất, ôm lấy chân hắn để cầu xin tha mạng. Với loại đớn hèn, duy có một nhát đao là gọn ghẽ nhất, hắn cười khinh bỉ.
Bỗng nụ cười của hắn biến mất, thay vào đó là cái nhìn hãi hùng khi Dương Phong ngẩng mặt lên. Toàn thân ông vẫn run, nhưng từ cổ lên đầu cứng đơ. Da mặt căng, đôi môi không cười không khóc, cặp mắt đỏ sực, phát ra sức nóng khủng khiếp như một con dao lửa. Cặp mắt ấy rọi vào mắt Trình Vĩ. Hắn phải gồng mình để không nhắm mắt lại. ánh mắt quét xuống mũi, má, cằm bỏng rãy. ánh mắt rọi vào yết hầu làm Trình Vĩ không tự chủ nổi, buông rơi cái khay, dùng cả hai tay bịt chặt lấy cổ họng, sợ nó đứt lìa.
Cái khay đồng rơi cái “xạch”, đầu của Tiết độ sứ lăn lông lốc.
Nghe tiếng la hoảng, lũ quân canh tuốt kiếm chạy vào, ngỡ ngàng khi tả tướng ôm cổ ú ớ kêu cứu. Rồi chính chúng cũng bở vía khi nhìn thấy Dương Phong.
- Giết nó. Trình Vĩ khó lắm mới bật ra được tiếng.
Hai gã quân canh cùng tiến đến. Ngần ngừ chưa dám vung kiếm chém.
- Giết nó ngay. Giọng Trình Vĩ đã mạch lạc hơn.
Dương Phong lúc này trông giống con thú dại chứ chẳng phải người. Chúng rối rít thụt lùi. Dương Phong rời khỏi giường, không màng mấy kẻ đang lăm lăm tay kiếm. Ông cúi xuống nhặt đầu Tiết độ sứ, tiện nhặt luôn cái khay đồng. Sau đó ông đặt cái đầu lên khay trên bàn, cạnh bữa cơm tối, miệng thì thầm đôi câu có lẽ chỉ người chết mới nghe được. Xong đâu đấy, Dương Phong nói như ra lệnh với gã tả tướng:
- Cho ta gặp Hàn Bích Liễu!
Trình Vĩ không đáp, hô quân mang cái đầu đi. Dương Phong nhìn khay đựng cơm canh. Khẩu phẩn ăn bữa tối cắt một nửa so với bữa trưa, ông nói một mình:
- Tối nay là bữa cuối cùng, Lý huyên đệ ạ! Tôi đã định ngừng toan tính và lo lắng, cùng ông tìm chỗ yên bình sống nốt quãng đời còn lại. Nhưng trời vẫn phụ lòng người. Ông trời bắt tôi phải buôn thêm một chuyến nữa. Thôi mời nhé!
Lúc quay lại, Trình Vĩ thấy ghê sợ vì Dương Phong không để sót một thức gì.
- Hàn nguyên soái cho gọi. Cấm không được mang vũ khí.
Hắn nói rồi dẫn Dương Phong đến hổ trướng. Hổ trướng là căn nhà gỗ hai gian chếch về hướng đông. Một là nơi Hàn nguyên soái nghỉ ngơi, thông với gian kia bằng cánh cửa nguyên tấm. Gian đó đặt một bức trướng lớn có hình đầu hổ cực to. Cặp mắt uy phong nổi từng vằn máu, đầu bung xung, bộ lông rối và hàm răng khủng khiếp với cặp nanh nhọn hoắt dài tựa lưỡi mác. Miệng hổ ngoác đỏ lòm, râu đâm tua tủa sang ngang. Cái trướng có từ mười năm nay, là bùa hộ mệnh của Hàn Bích Liễu nên hễ hạ trại là nó được dựng tại nơi trang trọng. Thực ra đồ đạc trong căn phòng không nhiều nhặn gì. Ngoài bức trướng chiếm chỉ có thêm cái giá treo họa đồ hành quân, ba cây nến chân đồng nặng trịch và cái ghế tướng quân, chạm mặt hổ phù. Chính là cái ghế Hàn Bích Liễu đang ngồi khi Dương Phong được đưa đến. Ông ta vểnh ngược bộ ria mép vốn đã rất vểnh, nhìn Dương quân sư bằng con mắt mục hạ vô nhân tự hỏi mình có nên phí thời giờ vào việc vô bổ này hay không. Dương Phong đã lấy lại vẻ mặt bình thản thường ngày, ngắm rất kỹ kẻ có danh xưng là Bách Thắng Tướng Quân. Giương mặt của ông ta được đóng ấn bằng bộ ria vểnh. Sâu hơn một chút là mắt hạt nhãn, gò má nổi, trán phẳng, đặc biệt là đôi tai hơi to và hơi nhọn. Ông ta cười có lẽ sẽ giống mặt con hổ trên trướng. Con hổ hông đeo kiếm, mình mặc bộ giáp bạc, đi đôi giày da báo.
Cất kín thảm cảnh vừa qua, Dương Phong lẳng lặng đứng ra chiều chờ đợi. Thái độ kỳ quặc khiến Hàn Bích Liễu phải lưu tâm. Hắn muốn cầu xin hay muốn liều mạng. Trình Vĩ đồng ý dẫn hắn đến kể cũng là chuyện lạ. Hắn còn chờ ta xuất ngôn trước mà rình sơ hở đây. Vì không đoán nổi ý nghĩ của Dương Phong, Hàn Bích Liễu bắt buộc phải quan sát. Khuôn mặt của người đối diện nói lên công việc ông ta đảm nhận. Khuôn mặt của kẻ khôn ngoan với đôi mắt sắc và kín, cái mũi thẳng gọn thách thức. Chòm râu phá cách khiến kẻ khác khó lường. Họ Hàn đã cười khẩy lúc nghe tin Lý Tiến chọn một người Việt làm quân sư nhưng nhìn tận mắt thấy Dương Phong giống người Hán hơn nhiều.
- Trình Vĩ! H àn Bích Liễu nghiêm khắc nói. Tại sao ngươi dẫn hắn đến đây khi chưa có lệnh của ta?
Trình Vĩ bối rối. Rõ ràng nếu nguyên soái không lệnh thì dẫu ăn gan hùm hắn cũng chẳng dám dẫn người đến. Song hắn đoán nguyên soái nói vậy chắc hẳn có ý:
- Bẩm. Tại hắn khăng khăng đòi gặp nguyên soái nên tôi mạn phép. Này ngươi có điều gì muốn thì nói, đừng làm mất thời giờ quý báu của người.
Dương Phong thủng thẳng:
- Tôi có chuyện rất quan trọng, muốn nói riêng với nguyên soái. Nên ông bảo chúng lui ra.
- Láo. Trình Vĩ nạt. Dám hỗn, thử xem trên cổ ngươi có mấy cái đầu.
Dương Phong chẳng thèm đáp. Ông bỏ mặc sự hiện diện của gã ưng trảo, mắt dán vào cái đầu hổ trên trướng.
- Người ra ngoài. H àn Bích Liễu nói với Trình Vĩ. Xong việc ta cho gọi.
Trình Vĩ ngơ ngác, vội thưa:
- Bẩm nguyên soái không nên! Hắn ta trí trá để có cơ hội trả thù cho tên Tiết độ sứ.
- Đi ra ngoài. H àn Bích Liễu gắt.
Trình Vĩ lùi nhanh ra cửa. Căn phòng chỉ còn lại hai người và ba cây nến. Dương Phong say mê ngắm cái đầu hổ, như quên mục đích. Hàn Bích Liễu khoan khoái đôi chút vì có người tỏ ra thích cái đầu hổ, chợt nghe Dương Phong nói vu vơ “L âm sơn bách tuế. Duy ngã độc tôn” thì giật mình, cau mày hỏi:
- Ngươi có chuyện gì định nói với ta?
- Về việc ông hạ sát Tiết độ sứ. D ương Phong bắt nhời thẳng.
- Hừ. Ngươi muốn chết theo hắn sao? Trán họ Hàn nhăn tít lại.
- Có thể lắm. Sau khi tôi giết ông.
- Ha ha. To gan. Dám vuốt râu hùm. H àn Bích Liễu cười điên, tay muốn rút kiếm.
Dương Phong cười giọng mũi. Cái âm điệu khinh khỉnh ấy làm Hàn Bích Liễu chột dạ.
- Tôi đã hiểu vì sao ông chỉ loanh quanh chốn biên ải, giống loài hổ mọt đời chỉ thị uy với loại cáo cầy nhãi nhép trong chốn núi rừng hẻo lánh không ai ngó tới. Xuống đồng bằng thì đừng nói đến loài rồng râu dài vẩy sắc, ngay cả giống chó đói cũng nhờn mặt, không thèm sợ hãi. Ông cất cái thứ đó đi! Hẵng tạm cho rằng Lưu Hán Vương là tượng long đại diện cho quyền uy, còn ông, Bách Thắng Tướng Quân là tượng hổ, biểu trưng của sức mạnh. Song chẳng có nghĩa gì hết khi ông luôn ngồi dưới Hán Vương, một tay chống cả bầu trời nhà Hán nhưng quyền lợi chẳng bằng phần thừa của những kẻ mòn đít gặm kinh thư mà nói toàn điều ngu xuẩn, những kẻ rách gối vì quỳ lụy, hèn hạ nhưng lại hưởng chức cao lộc lớn. Ông không phục thì mặc xác ông bởi nếu trao thêm quyền hành cho ông, cái ngày ông hất đổ ngôi vương sẽ rất gần. Đừng đặt kiếm vào cổ tôi. Nếu muốn ông đã chém, một nhát như với Tiết độ sứ mà thôi. Ông phá mất viễn cảnh thanh bình của chúng tôi, do đó tôi thù và sẽ đẩy ông vào thế đối nghịch với Lưu Hán Vương.
- Ha ha... Ngươi đòi gặp ta để nói chuyện vớ vẩn này. Muốn ta phản bội lại triều đình ư? Chớ có hão huyền. Ta cho ngươi nói một câu cuối cùng trước khi chết!
- Được. Nghe này, nếu ông giết tôi, ông sẽ chết không có chỗ chôn.
- Nguyên do làm sao?
- Bởi kiểu gì ông cũng làm phản. Nước Việt địa thế hiểm trở, biển bạc rừng vàng, ai chả muốn vơ vét. Khi đánh tan đám loạn quân ô hợp, đời nào ông đem công sức của mình dâng cho Hán Vương trong khi bản thân chưa có lấy một tấc đất. Nhưng tôi nói trước, đó là hành động tự sát ngu dốt nhất.
- Ta không hiểu?
- Không kể 15 vạn của Tử Xa Đoàn, còn 5 vạn quân trực thuộc quyền chỉ huy của Phó soái Trần Bảo. Ông chắc khống chế được hắn chứ? Cho là nếu không, còn có thể dùng đến thanh kiếm, gộp hai nhóm thành 20 vạn quân. Thế có quá nhiều không nhỉ! Tôi biết Tử Xa Đoàn cốt tinh bất cốt đa, có điều những chiến công lừng lấy của ông vẫn dựa trên nên tảng quân địa phương. Nay Hán Vương viện cớ phòng nhà Đường xâm lấn nên chỉ cấp cho ông vừa đủ lực để phá, còn để giữ thì chờ đấy. Bên Nam Hán lúc này, muốn huy động quân trăm vạn không phải chuyện to tát. Hễ có biến là đánh ngay. Thật nực cười khi nghĩ đến chuyện ông cầm một nhúm quân mình chống người nước mình để giữ đất nước khác.
- Nếu không thì làm thế nào? D ương Phong đã đánh trúng mối lo ngại thầm kín trong lòng họ Hàn, ông ta không kìm nổi phải bật ra câu hỏi.
- Cất kiếm đi, kẻo nó làm rách cổ họng tôi.
Hàn Bích Liễu quắc mắt với lời yêu cầu ông ta cho là xấc xược. Có điều, khoé mép Dương Phong đang vẽ lên biểu hiện không khoan nhượng nên  họ Hàn đành thu thanh kiếm về.
- Tôi tin chắc Hán Vương đã cài tai mắt trong đám thân tín của ông để đặng theo sát tình hình. Do đó ông cần toàn tâm chiếm được Đại La cái đã. Nhưng tôi nói trước, giặc xứ này không dễ một sớm một chiều mà khuất phục nổi đâu. Ông hãy dùng cớ này để xin lưu lại sau khi đã làm chủ tình hình. Tôi nghĩ Hán Vương sẽ thuận ý, chả thế mà ngay từ đầu đã phong ông làm Trấn Nam Nguyên Soái. Sau đó ông phải nhanh chóng chiêu binh mãi mã, mưu cầu nghiệp lớn.
- Nói như ngươi thì nói làm gì! Ta hỏi ngươi dùng cách nào có thể xây dựng được lực lượng đủ mạnh giữa lúc cả người Hán lẫn người Việt đều lấy ta làm cái đích tiêu diệt.
Dương Phong thò tay vào trong áo. Hàn Bích Liễu rút phắt thanh kiếm. Dương Phong cười nhạo lôi ra một vật màu đen, to bằng quả trứng gà.
- Bằng ma lực của nó. D ương Phong đáp.
- Nó là cái gì, một loại đá hay ngọc chăng? H àn Bích Liễu hỏi.
Dương Phong nhìn Hàn Bích Liễu như thể nhìn một tên võ biên thô tục, chân bước tới bên ngọn nến, đưa vật đó vào gần ngọn lửa. Hàn Bích Liễu sững sờ. Hổ trướng đang ngập trong ánh sáng. Một thứ ánh sáng hoàn trộn đủ màu sắc, mát mắt và thư thái, được tạo nên bởi ánh sáng của lửa đi qua vật đen kỳ dị đó.
- Lạc Nhật Minh Châu! Ông ta thì thào đầy vẻ thèm muốn.
- ít ra ông cũng có mắt.
Dương Phong lạnh lùng cất viên Minh Châu vào người trong cái nhìn hau háu của họ Hàn. Kể ra thì khó có ai bình tĩnh nổi trước thứ báu vật liên thành ấy. Người ta bảo Lạc Nhật Minh Châu là tinh khí của trời đất. Nó hấp thu được mọi loại ánh sáng dù là yếu nhất để tạo ra một loại hào quang đặc biệt, mạnh hơn mặt trời nhưng dịu hơn mặt trăng. Người ta còn nói thứ hào quang đó chữa được bách bệnh, dù hơi khó tin vì Dương Phong đang ho sù sụ. Song điều chắc chắn là loại Minh Châu này sinh ra bất kể thế nào cũng mang hình thuôn tròn của trứng gà và giữ hình dạng này suốt hàng vạn năm. Lạc Nhật Minh Châu cứng nhất trần đời. Lạc Nhật Minh Châu quý nhất trần đời. Ai cũng từng nghe nhưng rất ít người từng nhìn thấy. Bởi nó hiếm nhất trần đời. Cả nước Trung Hoa rộng lớn, vào thời này chỉ có ba viên rõ ràng danh tính. Hai viên nằm ngay tại Tràng An. Một nằm im lìm trong bảo khố của Đường Trang Tông. Một là niềm tự hào đổi bằng sản nghiệp lớn của Phú Vương Lý Kinh Biện. Viên còn lại là bảo vật trấn giáo của Tử Giáo, giáo phái tàn độc nhất bấy giờ, có tổng đàn ở Triết Giang. Qua miêu tả của những kẻ hạnh vận thì ba viên đó lớn trứng hơn bồ câu một ít, tức là nhỏ hơn viên Minh Châu của Dương Phong.
Hàn Bích Liễu ngậm bớt lòng tham lại, nói nghi hoặc:
- Ta sẵn sàng giết ngàn người vì bảo vật đó. Nhưng không phải là Long ấn hay Lệnh Kiếm có thể hiệu triệu triệu thiên hạ thì cũng chỉ là đồ vô dụng mà thôi.
- Nhầm to. Lệnh Kiếm, Long ấn chỉ có tác dụng trên một vài phương diện nào đấy thôi. Ông có biết con người ta được sinh cùng lúc với lòng tham và sự hèn nhát hay không? Những thứ mà chỉ có Thánh nhân, Phật sống mới chế ngự nổi suốt đời suốt kiếp. Còn nói đến việc ham hố của cải, người trần mắt thịt như tôi và ông, không cứ là người Hán hay người Việt, hay tộc người nào khác đều không có sự phân biệt. Nếu ông nắm trong tay một kho tàng lớn gấp trăm gấp nghìn viên Lạc Nhật Minh Châu nhỏ bé này, ông sẽ là kẻ đần độn nếu không nắm được cả thiên hạ.
Nghe đến giá trị tài sản quá lớn như vậy, Hàn Bích Liễu không khỏi run lên. Dù sao ông ta vẫn nói rắn:
- Ngươi đang dụ dỗ con trẻ ư? Ngươi lấy đâu ra cái kho tàng ấy? Nếu có làm sao ngươi vẫn cam chịu mang thân nô bộc? Có được thiên hạ chăng, nếu vậy làm sao Đại La thất thủ, làm sao gã Tiết độ sứ ngu ngốc đó phải chết? Ta không tin dải đất toen hoẻn này lại giàu có đến thế?
ÁNh mắt Dương Phong đầy giễu cợt:
- Ông hy vọng gì vào cách khiêu khích ngây thơ này hả nguyên soái? Làm sao ông vẫn bách thắng nhỉ? Hay là thánh nhân đãi kẻ khù khờ?
Mấy câu đốp làm Hàn Bích Liễu căm tối mặt. Dương Phong lạnh như không, chả thèm để ý đến chuyện nếu không có kho báu thì đầu ông đã rơi từ lâu rồi:
- Nước Việt tuy nhỏ nhưng là đất thánh. Địa linh nhân kiệt. Giàu có và trù phú, sung túc và ấm no. Bọn Hán các người cũng bởi ham hố kỳ quan dị vật, thế thần long ẩn mà hết đời này sang đời khác đem quân tàn phá, cướp bóc, gieo rắc tang thương…
- Ha ha. Ngươi nói như thể bậc ái quốc trung trinh. Ngay ta cũng cảm thấy ghê tởm hành động của ngươi. Ta sợ bọn người Việt nếu bắt được sẽ phân thây ngươi làm trăm mảnh.
- Nếu tôi là người Hán thì chính tay ông sẽ làm việc đó chứ? Có điều tôi không phải người Việt, cũng chẳng phải người Hán. Tôi là một con buôn lấy tiền tài là gốc gác, chỉ quan tâm đến lời hơn thiệt kém. Ngoài bản thân ra, được mất vui buồn của kẻ khác, tôi chẳng màng.
- Thế nói ngươi căm thù ta vì đã giết Lý Tiến cũng chỉ là giả dối sao?
- Đó là chuyện chẳng thể đánh đồng. Lý Tiến là kẻ tri âm. Chúng tôi rửa tay tìm cuộc sống mới không bon chen không thù hận. Nhưng ông dám xuống tay với ông ta. Chính ông đã khơi dậy bản năng của tôi, bắt buộc tôi phải thực hiện thêm một chuyến hàng cuối cùng.
- Ngươi muốn thế nào?
- Tôi sẽ dùng kho báu làm vốn, hàng mua là ông và đội quân của ông. Mục tiêu sẽ là tính mạng của binh lính, thường dân Hán, Việt. Càng nhiều máu xương đổ xuống thì lãi càng lớn. Nếu giết hết là tận cùng tài lộc. Nguyên soái thử xem có chấp thuận được không?
Dương Phong nói mấy câu như chơi mà khiến kẻ độc đoán như Hàn Bích Liễu cũng không khỏi ghê rợn. Hắn chưa từng gặp kẻ nào độc ác. Một con rắn độc thực sự, có dịp phải tiêu diệt ngay.
- Nãy giờ ngươi nói rất nhiều về kho báu nhưng ta tìm chưa thấy thứ gì đáng giá ngoài một viên Minh Châu. Liệu trong đó có một ngàn viên như thế không?
- Nhiều thế thì còn đâu giá trị. Chỉ có viên này và thêm một viên nữa nổi bật lên giữa rừng vàng bạc châu báu. Ông có biết ngày xưa đất Việt bị giặc Nam Chiếu phá hại suốt mười năm. Tướng giặc là Đoàn Tù Thiên đã tập trung được một lượng châu báu khổng lồ. Cao Biền đánh La Thành, giết được Đoàn Tù Thiên, cướp luôn được kho báu. Tất nhiên ông ta không đời nào dâng nó lên vua Đường, vốn dĩ đã rất giàu có bởi làm chủ cả Trung Nguyên. Nhưng giữ lại trong thành thì sớm muộn cũng bị phát hiện. Lấy cớ thăm dò sơn thủy, triệt long mạch nước Nam, ông ta đã tìm được chỗ lý tưởng, lập tức chuyển kho báu đến, chia làm đôi cất giữ tại hai nơi gần nhau. Sau đó phong ấn lại. Theo lẽ thường, những người tham gia việc chôn cất kho báu nếu không bị chôn theo cũng bị thủ tiêu. Cao Biền một mực trung thành với triều đình nên trong suốt đời của ông ta, kho báu chìm sâu và quên lãng. Chỉ đến trước lúc chết, Cao Biền chợt sợ phải mang theo bí mật đó xuống mồ nên  để lại một lời sấm ngôn dẫn đường.
- Một lời sấm ngôn? H àn Bích Liễu tò mò.
Dương Phong hắng giọng  ngâm
 “Bài bất mộc. Thạch hồi đầu!
Phù sam thuỷ phủ. Hùng cử sơn khâu!”
- Bài không phải bằng gỗ, đá quay đầu về. Phủ nước mặc áo nhẹ, đầu núi hình con gấu. Dịch bốn câu, Hàn Bích Liễu giục. Ngươi đọc tiếp đi.
- Hết rồi. Lời sấm chỉ có bốn câu như thế.
- Bốn câu thôi sao? H àn Bích Liễu chưng hửng. Cứ cho đã biết kho báu giấu ở đầu núi có hình con gấu đi. Nhưng ngọn núi đó nằm ở đâu trong hàng vạn ngọn núi lớn nhỏ. Câu “Thủy phủ phù sam” còn có thể hiểu chứ hai câu trước “B ài bất mộc. Thạch hồi đầu” là nói về cái gì?
- Lúc tôi nghe được lời sấm, tôi đã nghĩ Cao Biền dùng bốn câu sấm để dẫn đường kẻ hữu duyên nên lần lượt theo từng câu một từ nơi trú ngụ của ông ta đi đến tận nơi cất kho báu.
Hàn Bích Liễu chẳng hiểu gì, giục:
- Nghĩa là mỗi câu dẫn một đoạn đường, từ nơi Cao Biền trú ngụ. Đại La phải không? Nhưng còn đi đâu nữa, ngươi nói rõ hơn xem.
Dương Phong lắc đầu:
- Tôi chỉ cung cấp khởi điểm thôi. Còn tiếp theo tuỳ thuộc vào duyên phận của ông.
- Cái gì?
- Hễ lộ ra lập tức đầu lìa khỏi cổ. Nếu là ông, ông có muốn nói không?
- Hừ. Ngươi có nghĩ ta sẵn sàng giết ngươi ngay bây giờ không?
- Tuỳ ông thôi. Dương Phong thản nhiên.
Hàn Bích Liễu tức lắm, chực chém Dương Phong nhưng rồi kìm lại được:
- Hôm nay đủ rồi. Mai bàn tiếp.
Dương Phong vừa đi khỏi, họ Hàn sai triệu tập các tướng bàn việc tiến quân. Đến canh hai, hổ trướng mới tắt lửa. Sáng hôm sau, quân Hán bắt đầu rậm rịch. Thấy nhiều người ra vào hổ trướng, người ta hiểu ngay Hàn nguyên soái đang sắp đặt nhân sự cho trận tổng tấn công. Còn Dương Phong ung dung đọc sách vì bọn quân canh đã được lệnh cấm sách nhiễu ông. Ngay sau bữa ăn trưa, gã thiếu niên mắt xếch đến tìm, nói nguyên soái muốn gặp. 
Hàn Bích Liễu ngồi trên ghế hổ phù, bảo gã thiếu niên ở lại nghe chuyện.
- Hàn Thái Anh là con của muội muội ta. Phụ mẫu nó mất sớm nên ta nhận nó là dưỡng tử, tin tưởng như con ngươi trong mắt.
Nghe thế, Dương Phong không thắc mắc nữa, nói:
- Ông có định tiến hành vụ buôn bán này không?
- Ta chấp thuận với điều kiện ngươi phải chứng tỏ cho ta thấy kho báu là có thật.
- Có nghĩa phải đến tận nơi ông mới tin? D ương Phong nói móc.
- Ngươi có bao giờ chịu thiệt? Để giữ chữ tín, ta chỉ cần ngươi lấy thêm vài thứ trong đống di sản không lồ của Cao Biền mà thôi.
- Ông làm khó tôi quá. D ương Phong hơi nhăn mặt. Tôi sẽ tự thân đi lấy song bản thân ông lại không thể rời doanh trại lúc này. Nếu cử thuộc hạ. Đến lúc thấy kho báu rồi, đến giời cũng không biết lòng tham sẽ tạo nên hoạt cảnh nào.
- Nhưng nếu không có gì làm bằng, sao ta tin được là ngươi không nói dối. Đừng để ta phải giết ngươi rồi tự đi tìm lấy. Ngươi làm được, có khi nào ta không làm được. Dương Phong, ngươi hãy nghĩ cho kỹ.
Đôi mắt hạt nhãn của họ Hàn trợn trừng, bộ ria càng vểnh tợn.
Dương Phong ra chiều đắn đo rồi nói:
- Tôi buôn chưa từng để kẻ khác ép giá. Có điều ông nắm quyền sinh tử nên tôi sẽ đưa ra giải pháp trung dung thông qua một kẻ đặc biệt thân tín. Là ai ư? Đó là lão quản gia người Hán của tôi. Lão sẽ đi nhưng ông không được cho người theo. Vì lão rất thính nhạy lại tuyệt đối trung thành. Nếu lão không quay lại, tôi biết mình chắc chết và ông đừng hòng kiếm chác nổi dù chỉ một hạt bụi vàng. Ông muốn giải lời sấm ngôn ư!? Xin mời. Tôi đã có vài thay đổi nhỏ, làm gọn gàng hơn các sắp đặt của Cao Biền. Khác với ông ta, tôi sẵn sàng để kho báu nằm dưới đất vĩnh viễn.
- Hừ. Thế lão quản gia chết toi của ngươi đang ở đâu?
- Huyện Vọng Hải có một trấn hẻo lánh tên Thanh Hương, cạnh lưu vực Tả Giang (Sông Cà Lồ), cách doanh trại năm mươi dặm về phía đông bắc là nơi lão quản gia đang trú ngụ. Ông cho người đến dẫn về. Tôi sẽ chỉ đường cho lão đến kho báu. Chỉ cần biết giữ chữ tín, ông sẽ sở hữu một tài sản khổng lồ mà ngay cả trong mơ, ông cũng không dám nghĩ đến.
- Đưa lão ta đến đây thì nội nhật trong ngày hôm nay. Nhưng việc đến kho báu rồi trở về, ngươi nói xem mất bao lâu.
- Chậm nhất là ba ngày. D ương Phong chắc như đinh đóng cột.
- Ba.. ngày..?
Dương Phong bước đến cạnh bức địa chiến đồ vẽ rất chi tiết vùng Phong Châu và phần lớn Giao Châu, nói:
- Ông có một bức địa đồ tốt đấy. Tiếc là nếu chỉ dựa vào nó sẽ không thể dò ra vị trí nếu không giải được lời sấm. Hãy tin là chỉ tôi dẫn được ông đến đó. Đừng làm điều gì thất sách nhé.
Sau buổi tiếp kiến thứ hai, Hàn Bích Liễu lập tức sai tâm phúc tìm bác Tần. Không ai biết Dương Phong dặn người quản gia những gì, chỉ biết sáng hôm sau, tức là ngày hai mươi tháng hai năm Tân Mão (931), bác Tần cưỡi con ngựa chiến vào loại tốt nhất ngược lên phía bắc.
Ngày hăm mốt, trừ toán phòng vệ thì bốn cánh quân Hán với tổng số lên đến mười bảy vạn rưởi toả theo các con đường xuôi ngược mà tấn công quân Việt. Riêng Hàn Bích Liễu ở lại doanh trại. Và chiều hôm đó, Hàn Thái Anh cùng gã tỳ tướng Cửu Tuyên về báo đã lạc dấu bác Tần từ đêm hôm qua. Rõ ràng người quản gia già là tay khó chơi, hai kẻ theo dấu chỉ biết điểm đến là quần thể Bắc Vạn Lĩnh thuộc huyện Thừa Hoá. Biết thế bằng thừa bởi Bắc Vạn Lĩnh có đến cả trăm trái núi lớn nhỏ.
- Anh nhi. Con hãy đoái công chuộc tội bằng cách kiếm cho ra một tấm địa đồ Bắc Vạn Lĩnh, có đủ tên các ngọn núi. Còn Cửu Tuyên, ngươi xúc tiến ngay việc tìm người thông thuộc địa thế địa vật thành Đại La.
Hai gã líu ríu đi làm ngay. Còn lại mình Hàn Bích Liễu trong hổ trướng. Hắn lẩm bẩm:
- Dương Phong khốn kiếp. Ngươi định làm khó ta sao. Chờ đấy.
 “Bài bất mộc. Thạch hồi đầu!
Phù sam thuỷ phủ. Hùng cử sơn khâu!”
Ngày hăm hai, đúng như hẹn ước, bác Tần rong ngựa về doanh trại. Hàn Bích Liễu để cho người quản gia tự do gặp chủ nhân trước. Một lúc sau, Cửu Tuyên dẫn Dương Phong đến, họ Hàn làm vẻ hờ hững cho vào. Chờ Cửu Tuyên trở gót, Dương Phong mới lấy ra một thoi vàng lớn, một cái vòng ngọc quý và dăm đồ châu báu lộng lẫy. Hàn Bích Liễu xem xét rất cẩn thận. Sau khi chắc chắn là các vưu vật hiếm có, ông ta nói:
- Ta tin ngươi nói thật. Sự việc bây giờ trở nên hết sức đơn giản, ngươi và lão quản gia hãy thoải mái trong doanh trại. Chờ khải hoàn, lúc đấy sẽ tính tiếp.
Dương Phong bèn cáo lui.
Trong ba ngày tiếp theo, dù đã cố tập trung vào binh tình nhưng trong đầu Hàn Bích Liễu luôn ong ong lời sấm của Cao Biền. Kho báu đã thực sự bám chặt trong tâm trí ông ta. Không đêm nào ông ta ngủ ngon giấc. Cứ chập chập chừng canh hai, canh ba, Hàn Bích Liễu giật mình đánh thót, lúc chồm dậy lần tìm cái vòng ngọc để dưới gối, lúc lại thắp nến, lấy giấy bút chép lời sấm, gạch xoá những các giải nghĩa mù mờ của mình, không thì săm soi từng tấc giấy của tấm địa đồ Bắc Vạn Lĩnh. Đến sáng ngày hăm sáu, tưởng chừng họ Hàn không chịu nổi, cầm kiếm định tìm thầy trò Dương Phong hỏi tội thì hai thám mã trở về. Cánh quân của tả tướng Trình Vĩ đã giao chiến hai trận với quân Phong Châu tại Thừa Hoá, tình hình ngày mai sẽ quyết trận thắng bại cuối cùng. Còn đội thuỷ quân của phó soái Trần Bảo xuôi Trung Thủy vượt qua mé nam của huyện Liên Lâu, đến địa phận huyện An Định, nhưng chưa đánh đấm gì cả bởi không hề thấy quân cản. Hàn Bích Liễu chột dạ, nói với tên thám mã:
- Đến giờ quân địch đáng lẽ đã phải phát hiện ra hướng di chuyển của ta rồi. Nếu chúng chưa ra đánh, nhất định có mưu mô. Sông sâu sóng cả bất thường, ngươi hãy cấp tốc đến chỗ phó soái, truyền lệnh của ta bỏ thuyền lên bộ ngay.
Nói với tên thám mã còn lại:
- Ngươi trở ngược lên, ra lệnh cho Trình Vĩ không được lần khân nữa. Ngày mai phải diệt gọn đám loạn quân, tránh để lâu sinh biến
Hai tên thám mã đi rồi, Hàn Bích Liễu chợt thấy nóng ruột. Binh xuất năm sáu hôm mà có quá ít động tĩnh phản hồi. Dù có tin tưởng vào sức mạnh áp đảo của quân Hán nhưng thế này thì không ổn. Nhất là hai cánh quân kia chỉ báo về một lần rồi im bặt. Trừ Trình Vĩ đã trực tiếp giao chiến, còn lại dường như toàn đi vào chốn không người.
Không được. Họ Hàn vội vã sai lựa mấy tên nhanh nhẹn tinh khôn, bắt chúng truyền lệnh gấp đến ba đạo đang tiến đánh Giao Châu:
- Không được lấn sâu vào nữa. Lập tức tìm nơi hiểm yếu để dựng trại, đồng thời cho người do thám tình hình. Có bất ổn lập tức báo về ngay.
Chúng tuân lệnh chực đi thì họ Hàn dặn với:
- Tuyệt đối đề phòng cướp trại.
Đến tối, quân tuần tra về báo mọi chuyện vẫn bình thường. Hơn nữa Cửu Tuyên mang được về một lính canh thành Đại La tên là Giảo Khả. Hàn Bích Liễu moi móc từ gã đủ điều. Thực ra, sau bốn năm chục năm, những thứ Cao Biền để lại chỉ còn dăm ba. Lớn nhất chính là thành Đại La, thứ đến là cái hồ ngoại vi phía tây thành, nơi mà họ Cao cho là có long mạch trên con sông, sai lính phá mà thành. Trong thành còn ngôi đền Bạch Mã, thờ thần ngựa trắng trên trời giáng xuống giúp việc xây thành. Mấy nơi đó muốn tìm hiểu phải đến nơi xem cho kỹ. Nhưng Hàn Bích Liễu vừa sực nhớ ra một điều.
- Bẩm nguyên soái, Giảo Khả đã có mặt. Cửu Tuyên nói.
- Cho ngươi lui. Giảo Khả, ngươi hãy nhớ lại xem, trong thành có tấm bia đá nào không?
- Dạ thưa, có rất nhiều ạ. Trong đền miếu đều có bia ghi công, thờ thánh..
- Ta muốn hỏi có tấm nào đứng một mình ngoài trời?
- Có nhiều lắm ạ. Nhưng qua lắm tranh giao tranh nên vỡ nên gần hết. Này còn khoảng chục cái, chưa kể trong các làng. Nhưng nguyên soái muốn hỏi bia loại nào?
- Có cái nào của Cao Biền không?
- Dạ có. Một cái nằm ở mạn bắc thành.
Hàn Bích Liễu mừng húm, hỏi dồn:
- Ngươi nhớ trến đó có khắc chữ gì không?
- Xin để thuộc hạ nghĩ xem..
Hàn Bích Liễu hởi dạ, tự dưng mèo mù vớ cá rán, đoán mò mà trúng mới hay chứ.
- Thuộc hạ nhớ ra rồi. Nó có khắc bốn chữ “Phong ấn Nam thiên”.
- Để xem... Phong ấn Nam thiên thì ứng với cái gì nhỉ.. ư hừm... phong.. ấn... nam... thiên.. Tấm bia còn khắc chữ nào khác không?
- Dạ không, mấy mặt đều trơn nhẵn, chỉ có bốn chữ ấy thôi trên mặt xoay về hướng bắc.
- Ngươi nhớ đúng chữ chứ?
- Dạ, không sai được. Thủa nhỏ, thuộc hạ có từng học qua kinh thư. Sau dù ít dùng nhưng vẫn nhớ được mặt chữ.
- Được rồi, cho ngươi lui. Khi nào cần, ta lại gọi.
- Vâng ạ.
- Phong.. ấn.. nam.. thiên.. Nếu là bia trấn của Cao Biền thì ắt phải khắc bùa chú. Nhưng đây chỉ trơn bốn chữ. Có thể lắm. B ài bất mộc. Bài không bằng gỗ thì bằng đá. Bài đá hay bia đá cũng thế. ứng thạch hồi đầu. Đá phải quay về núi. Núi đá, bia đá. Thì bia đá phải khắc tên núi đá. Nhưng mà tên nào đây.
Hàn Bích Liễu giở mạnh tấm địa đồ. Trên có rất nhiều cái tên như núi Lĩnh, núi Bắc, rừng Tỉ Tê, suối Hoá, suối Nhạc, núi Trầm..
- Còn hai câu nữa tả đặc điểm, tính dạng. Địa đồ không ghi rõ. Cửu Tuyên đâu.
- Dạ bẩm, có thuộc tướng.
- Người gọi Dương Phong đến đấy.
- Tuân lệnh.
- B ài bất mộc, thạch hồi đầu. Tấm bia đá quay về hướng bắc, kho báu được phong ấn. Phải rồi, sao mình không nghĩ ra sớm hơn.
Hàn Bích Liễu vồ lấy tấm địa đồ, di tay về góc phía nam dãy Bắc Vạn, mắt sáng rực.
- Bẩm nguyên soái, Dương Phong đã có mặt. Cửu Tuyên nói.
- Cho ngươi lui.
Cửu Tuyên vâng lệnh, đóng cửa lại từ bên ngoài. Dương Phong đối diện với Hàn Bích Liễu. ánh nến cháy sáng rực..
- Ta gọi ngươi đến để báo tin mừng. H àn Bích Liễu bước lên.
- Tin mừng gì vậy? D ương Phong hỏi lại, mắt không rời bàn tay đối phương.
- Ngươi sắp được siêu thoát. H àn Bích Liễu cười khe khé.
Người ta chỉ thấy kiếm quang loé sáng. Một tiếng kêu tắt ngúm và một thân người đổ sụp xuống nền. Máu bắt đầu chảy. Giương mặt Hàn Bích Liễu nổi đầy thú tính. Hắn cười khe khé từng chặp. Cửa bật mở, Cửu Tuyên chạy vào, bất ngờ khi thấy Dương Phong nằm sấp mặt.
- Ngươi giết nốt lão già. H àn Bích Liễu tay lau kiếm, ra lệnh.
Nhưng lần này, Cửu Tuyên chưa kịp tuân lệnh thì cả hai nghe thấy những tiếng động trời long đất lở từ phía cổng trại. Rồi Hàn Thái Anh chạy bổ vào:
- Anh nhi. Có chuyện gì thế?
- Thưa bá phụ, có rất đông quân giặc đang tấn công vào trại.
- Cái gì? Quân phòng vệ đâu.
Thái Anh định đáp thì thêm một người nữa chạy bổ vào:
- Bẩm nguyên soái!
Hàn Bích Liễu giật mình nhận ra tỳ tướng Đồng Khải, cánh tay trái bị chém cụt đến khuỷu, lưng còn cắm vài ba mũi tên.
- Phòng tuyến thứ nhất đã bị vỡ, phòng tuyến thứ hai cũng sắp tan. Xin nguyên soái tức tốc rời theo cổng hậu.
- Ngươi nói lại xem nào. Vừa mới đây, chúng dùng cách gì mà phá vỡ phòng tuyến của ta?
- Tử.. Xa. Đồng Khải lắp bắp. Quân giặc dùng Tử Xa..
- Sao!? H àn Bích Liễu gần như quỳ xuống, túm cổ Đồng Khởi quát. Chúng lấy đâu ra Tử Xa?
- Thuộc hạ không biết. Chỉ thấy chúng bất ngờ xuất hiện với hàng trăm chiếc Tử Xa. Thượng tướng Long Kiều tử trận ngay trước trại, hai tướng Chung Hộ và Chung Hồng cố sức giữ lớp phòng vệ thứ hai, cũng bị loạn tên mất mạng. Giặc đông vô kể kéo từ ba mặt vào, quân tướng đã mất khả năng chống cự. Xin..
- Vô dụng.
Hàn Bích Liễu đẩy mạnh một cái. Đồng Khải ngã ngửa ra sau. Trong cơn bực tức, Hàn Bích Liễu rút kiếm toan chém, thì Cửu Tuyên vội nhào đến ôm lấy chân:
- Xin nguyên soái tha mạng.
Hàn Bích Liễu đạp Cửu Tuyên văng ra. Nhưng hắn lại nhào đến che cho Đồng Khải khiến thanh kiếm giáng xuống nửa chừng phải dừng đứng.
- Khốn kiếp. Ngươi muốn chết chung với nó à?
- Xin nguyên soái tha mạng. C ả hai gã tỳ tướng cùng kêu van.
Hàn Thái Anh thấy bất nhẫn cũng cất lời xin hộ:
- Bá phụ bớt giận. Chúng sắp đánh đến nơi, xin tạm tha cho họ lấy người chống địch.
Hàn Bích Liễu vẫn rất tức giận chưa chịu bỏ kiếm xuống. Bỗng đâu có gã thám mã, sáng nay vừa được sai đi, chạy vào.
- Hỏng mất rồi thưa nguyên soái. G ã thám mã tuyệt vọng kêu lên.
Hàn Bích Liễu sấn lại hỏi dồn:
- Có chuyện gì nói mau?
Mặt gã thám mã tái me tái mét, miệng lắp bắp:
- Bẩm.. bẩm nguyên soái!
- Còn thưa bẩm nữa? Nói nhanh lên.
- Hữu tướng quân Lục Hệ bị phục kích ở Lãng Bạc, người ngựa chết sạch, toàn bộ Tử Xa rơi vào tay chúng rồi.
Mặt họ Hàn tối sầm lại, lời nói của gã thám mã như sấm đánh lộng óc. Lục Hệ là tướng giỏi nhất của Tử Xa Đoàn, nắm tám vạn quân cùng Tử Xa đi theo quan lộ đánh thẳng xuống Giao Châu. Tay cầm kiếm cứng ngắc, mũi kiếm dốc đầu xuống đất, bộ râu của Nguyên Soái bất ngờ cụp xuống, đôi mắt mở thô lố. Gã thám mã sợ tai hoạ ập đến vội lùi ra hai ba bước. Cửu Tuyên và Đồng Khởi cũng vội vã dạt sang bên. Duy chỉ Thái Anh là còn đủ cam đảm đứng nguyên tại chỗ nhìn cơn thịnh nộ sắp sôi trào:
- Có phải là chúng? Hàn Bích Liễu chỉ ra cổng.
Gã thám mã vâng tít.
- Từ lúc nào? Thế còn cánh quân của Trần phó soái và Lâm tướng quân?
- Dạ đêm hăm ba. Quân địch giết hết thám mã nên tin không được đưa về. Trần phó soái.. Buổi trưa... hôm nay, phó soái bị chặn đánh trên hạ du Trung Thủy... đã tử trận ạ.
Lần này cả mấy kẻ kêu trời. Biết trước sau gì cũng phải nói nên gã thám mã tuôn một lèo:
- Quân Việt do Lê Lãm cầm đầu mai phục ở quãng sông hẹp rồi dùng thuyền nhỏ chứa đồ dẫn cháy đánh như trận Xích Bích. Hơn hai trăm chiến thuyền của ta không xoay xở kịp, đành chịu đắm. Số quân tướng chạy lên bờ thì bị tên bắn chết hết. Chưa hết. Ngày hôm qua, Lâm Du Hà tướng quân đưa quân vòng mạn tây nam Giao Châu đến huyện Chu Diên thì bị tướng giặc là Đinh Công Trứ dẫn quân cỏ lau đánh úp. Cũng chết cả rồi.
Dứt lời, chẳng để ai kịp phản ứng, gã thám mã co giò chạy. Hàn Bích Liễu sững người một lúc mới hì hục xách kiếm chạy ra sân. Đội phòng vệ nhân trại đã sẵn sàng cung kiếm chuẩn bị chiến đấu. Nhưng thế quân Việt to lắm. Toàn bộ doanh trại rung lên ấm ầm, lửa cháy đỏ trời, lại qua tiếng quát oang oang như lệnh vỡ:
- Quân Hán nghe đây. Bọn ta có ba mươi vạn quân đã phong toả mọi con đường. Các ngươi biết khôn thì mau mắn cởi giáp quy hàng. Thể lòng trời nhân nghĩa giữ cho mạng sống, cơ hội đoàn tụ với gia đình. Bằng không, bọn ta sẽ san phẳng chỗ này, giết bằng sạch giống ngoại xâm.
Có vẻ lời úy lạo đã có kết quả, tiếng hò reo chống cự giảm hẳn. Cánh cổng nhân trại rung lên bần bật trước sức ép kinh hoàng của quân Việt lẫn đoàn Tử Xa. Hàn Bích Liễu giận sôi, gào thét quân lính
- Đứa nào phản giết không tha. Sống chết cũng phải giữ nhân trại bằng được.
Quân sĩ dạ ran. Họ Hàn cắt Cửu Tuyên, Đồng Khởi trấn giữ đông tây rồi gọi Thái Anh về hổ trướng lấy thanh đại đao. Thái Anh vâng dạ, cắt cử nhân sự đâu đấy rồi vào theo. Bước qua xác Dương Phong, gã rất ngạc nhiên thấy Hàn Bích Liễu đang nhét mọi thứ có thể vào bọc.
- Bá phụ!
- Chớ ngạc nhiên, con cứ lẳng lặng làm theo ta là được.
- Nhưng thưa bá phụ! Chúng ta không chiến đấu bảo vệ trại ư?
- Đó là nhiệm vụ của chúng binh. H àn Bích Liễu nói rất tự nhiên. Thế giặc lúc này không tài nào cản nổi. Ta và con phải sống. Dương Phong đã chết, lão già kia chắc cũng chết dưới tay quân giặc và chúng ta sẽ độc chiếm kho báu.
- Nhưng còn quân lính, còn Cửu Tuyên, Đồng Khởi. Phải bỏ mặc hết bọn họ sao?
- Hãy cho chúng được chết vì niềm tin. Họ Hàn tàn nhẫn nói. Ta đi thôi.
Thái Anh không còn cách nào phải làm theo dù gã thấy người bá phụ mà gã hằng kính yêu đang hành động không xứng đáng với danh tiếng của một vị tướng bách thắng, lỗi lạc quang minh. Bá phụ đã hoàn toàn thay đổi, gã đau xót nhận ra chính ông ta chứ không phải ai khác đã gây nên cảnh tan nát này. Chỉ vì kho báu. Kho báu đã khiến bá phụ hoàn toàn thay đổi. Lần đầu tiên, gã thấy bá phụ xa cách với quân tướng như thế. Lần đầu tiên hắn thấy phụ sai lầm nhiều như thế. Bởi cái kho báu to lớn ấy đã đè choán hết tâm trí người.
Hổ trướng còn có một cánh cửa khuất đi ra hậu trại. Hậu trại áp lưng vào vách Bình Sơn nên là mặt duy nhất không bị bao vây. Cánh cổng gỗ mở toang, chắc do quân gác bỏ trốn. Hàn Bích Liễu giục Tiên Ô Mã chạy trước, Hàn Thái Anh hối bạch mã theo sau.
Chiến cuộc đã tàn. Quân Nghĩa Đoàn đã phá vỡ lớp phòng vệ nhân trại. Cửu Tuyên và Đồng Khởi đều tử trận, quân canh căm tức vì nguyên soái hèn nhát chạy trốn lấy thân nên lũ lượt xin hàng. Thống lĩnh đội tiên phong là Ngô Quyền. Hai tướng Phạm Minh Thành và Triệu Văn Tuấn vòng ra hậu trại diệt nốt những tên còn ngoan cố chống trả. Riêng Ngô Quyền cùng năm sáu người nữa, xông vào hổ trướng tìm Hàn Bích Liễu. Nhưng hổ trướng đã vắng ngắt, đổ đạc nghiêng ngả sau cơn tháo chạy. Chẳng còn ai ngoài cái xác. Sau khi lật ngửa lên, đội trưởng đội Hảo Bằng mắng luôn:
- Quân bán nước ty tiện.
Ngô Quyền nhận ngay ra Dương Phong. Chàng khẽ thở dài trước sự quả báo ấy. Mấy người kia nhao nhao mỗi người một ý, dù chung lại đều không muốn kẻ thân ngập đầy tội ác, sống bằng xương máu của đồng bào kết thúc một cách gọn ghẽ như thế. Đáng ra hắn phải sống để bị xét xử công khai, hẵng trả tội sống trước, nếu không thể tha thứ mới dùng đến tội chết.
Dở lúc, Tiểu Nhi từ bên ngoài, mặt đầy bụi ám, chạy bịch bịch vào. Vừa mới thấy Dương Phong, chàng ta rú lên, xông tới. Ai nấy đương ngơ ngác thì có người rút kiếm đâm luôn. Tiểu Nhi vung gậy gạt. Người sử kiếm tỏ ra rất nhanh nhẹn, lập tức áp sát khiến gậy dài không phát huy được uy lực, Tiểu Nhi lâm vào thế bị động rõ rệt. Chàng ta càu nhàu vì bị trúng một nhát vào bắp tay. Người tấn công là Phan Anh, tay kiếm thần tốc. Kẻ chống đỡ là Tiểu Nhi, đã nặng nề thấy rõ. Phan Anh đâm nhát nữa vào bắp tay trái, tay thuận của Tiểu Nhi khiến chàng ta đành buông gậy. Phan Anh liền chỉ mũi kiếm vào yết hầu tên béo.
- Phan đội trưởng. Ngô Quyền nghiêm giọng. Đội trưởng đang làm trò gì vậy?
- Tôi bắt nội gián. Phan Anh hờ hững buông câu. 
Ngô Quyền cau mày:
- Không được nói liều.
- Phó soái không tin. Chả trách. Tôi phải tìm hiểu khá lâu mới kết luận chính xác hắn là nội gián dưới mật danh Lãnh Phong. Trong ba tên phản quốc được gài vào Nghĩa Đoàn, Lãnh Phong là thuộc hạ của Dương Phong, kẻ ty tiện nằm kia…
- Câm mồm. Tiểu Nhi quát.
- Tên này là đứa giảo quyệt nhất, núp kín trong vỏ bọc một kẻ bốc đồng khờ khạo...
- Còn dám nói ta khờ khạo.
- Mặc dù bị săn lùng ráo riết sau khi Lang Ma và Dạ Mục phải đền tội, hắn vẫn thoát dễ. Thậm chí, nhờ có thân nhân trong thành, hắn được tham gia nhóm cảm tử. Lúc thành Đại La bị phá, hắn đã giúp Dương Phong và cẩu quan Lý Tiến trốn thoát.
- Phan đội trưởng. Anh đang kết tội người khác một cách vô căn cứ. Làm gì cũng phải có bằng chứng xác thực?
- Tôi không có bằng chứng nhưng có nhân chứng. Đào Hùng, đội viên Nỏ Thần tận mắt chứng kiến gã Nguyễn Tiểu Nhi này dẫn hai tên đầu sỏ đó đến con kênh nhánh đổ ra Nhị Hà, trước khi chúng dùng thuyền của hắn chuẩn bị từ trước đào thoát.
- Tại sao lúc đó Đào Hùng không ngăn lại? Còn nếu không ngăn được tại sao chỉ báo với đội trưởng mà không phải là nguyên soái và các tướng?
- Thứ nhất là Đào Hùng vốn không phải là đối thủ của Tiểu Nhi, hơn nữa còn đang bị thương. Thực ra không phải tình cờ cậu ta có mặt ở đó. Do tôi từ lâu vốn nghi ngờ hành tung của hắn, thấy hắn bỏ nhiện vụ phá công mà chạy về hướng khu người Hán, tôi nhờ Đào Hùng bám theo vì bản thân phải bận thanh toán mối huyết thù với Lê Khắc Chinh. Sau đó, tôi ngại sự việc lan ra ngoài gây hoang mang trong binh sĩ nên không cho Đào Hùng báo cho các vị. Bù lại, tôi kèm sát hắn trong suốt quá trình hành quân, định bụng sẽ giải quyết ngay nếu hắn manh động. Dẫu sao thời điểm này cũng khá là hợp lý.
- Đỗ đội trưởng. Phiền đội trưởng ra ngoài tìm Đào Hùng đến đây đối chất.
- Không cần đâu. Tiểu Nhi nói. Phan Anh, ta cứ ngỡ mi là bậc nam nhi thoáng tính, ai ngờ vẫn một giống nhỏ nhen. Chỉ vì một cú đánh vào đầu mà mi bỏ công lùng sục, thậm chí còn sai người theo dõi ta. Hừ.. hừ..
- Ngươi đã thừa nhận ta cũng làm rõ luôn. Đêm đấy, ta tìm thấy chỗ các ngươi trao đổi thư từ nên bị một gậy vào đầu. Phan Anh đá cây gậy lăn vào góc nhà. Nói ngươi xảo quyệt thì hơi quá. Phải là ngu ngốc mới đúng. Ngươi tự để lộ thân phận của mình. Đáng lý lúc ấy phải giết ta luôn. Nhưng ngươi đã run tay đúng không?
- Không bao giờ. Tiểu Nhi gằn từng tiếng. Ta không bao giờ giết người. Ta khác hẳn với ngươi. Đồ máu lạnh!
- Câm mồm lại!
Phan Anh cứa vào cổ Tiểu Nhi thành một vệt máu.
- Mạnh tay vào, đừng làm trò hề nữa! Tiểu Nhi quắc mắt.
Phan Anh mím môi.
Ngô Quyền dùng gọng tay thép siết mạnh cổ tay Phan Anh.
- Phan đội trưởng. Giọng chàng tiềm ẩn một sự bùng nổ rất lớn. Trách nhiệm của đội trưởng đã hết, hãy để việc này cho Nguyên soái giải quyết.
Phan Anh quay sát vào mặt Ngô Quyền, đôi mắt lạnh như đá, còn mặt Ngô Quyền nóng bừng. Hai người gườm nhau trong khoảnh khắc, rồi Ngô Quyền thả tay. Cổ tay Phan Anh tê chồn, anh ta không nói thêm, đút kiếm vào vỏ và lùi lại. Ngô Quyền đối mặt với Tiểu Nhi. Bằng giọng cương quyết nhưng ôn hoà, chàng nói với cậu em kết nghĩa:
- Đội viên Nguyễn Tiểu Nhi. Qua những lời đối đáp giữa hai người, chúng tôi hiểu anh thừa nhận đã làm nội gián cho Dương Phong. Tội phản quốc là không thể tha thứ. Nên chúng tôi rất muốn nghe anh biện minh cho bản thân.
- Ngô phó soái. Tiểu Nhi nói, thừa cương quyết mà hoàn toàn thiếu hẳn phần ôn hoà. Tôi đã làm tất cả những điều đó. Đấy là quyền của tôi, tôi không cần phải xin phép ai. Không phải biện minh gì sất. Bỗng chàng ta khựng lại. Nhưng... tôi sẽ nói..
Ngô Quyền hơi ngạc nhiên.
- Nhưng trước khi nói tôi có một thỉnh cầu!
Ngô Quyền gật đầu.
- Cho phép tôi được an ủi Dương gia một chút! Tiểu Nhi nói bằng giọng chân thành nhất.
Ngô Quyền đồng ý bất chấp vài người tỏ vẻ ngăn cản. Tiểu Nhi chẳng thèm quan tâm. Chàng ngồi bệt xuống đất, tay đỡ lưng Dương Phong. Ngô Quyền thấy vết thương của ông ta rất giống với vết thương của Nguyên soái lúc ở Trường Châu. Máu đã thôi chảy, đóng thàng mấy mảng lớn trên vùng bụng. Đôi mắt Dương Phong nhắm kín,  mặt trắng bệch. Tiểu Nhi đút một viên thuốc màu xanh vào mồm người bị nạn, sau đó chàng lôi bầu nước kẹp lép của mình, nhỏ những giọt cuối cùng vào hốc miệng khô rang. Nhờ nước, thuốc đã trôi vào bụng nhưng Dương Phong chẳng hề động cựa. Mấy người trên đương trường tưởng Tiểu Nhi mất trí đến nơi khi cho người chết uống thuốc nhưng trong lòng Ngô Quyền dấy lên một cảm giác rất kỳ lạ. Chàng chăm chú nhìn Tiểu Nhi giống kiểu Tiểu Nhi đang chăm chú nhìn mặt người chết. Tựa như khi Tiểu Nhi đang trông chờ vào một điều kỳ diệu nào đó, thì chàng bỗng tin là Dương Phong đang thở. Vô cùng yếu ớt nhưng vô cùng dai dẳng. M ình bị ám rồi. Chàng nghĩ thầm. Không phải chứ, trên trán người chết nổi một vệt hồng. Đến lúc này, đám người bàng quan kia đã bắt đầu “ồ, à”. Không cần tinh mắt lắn cũng thấy lồng ngực Dương Phong rung khẽ. Khẽ. Mạnh dần, rồi mạnh hơn. Tai Tiểu Nhi nghe rõ tiếng thở, mắt chàng loé sáng khi thấy môi người chết chợt mấp máy. Mọi người nín thở. Và Dương Phong thở và từ từ mở mắt.
- Ôi thầy. Tiểu Nhi nghẹn ngào. Con biết là thầy không chết sớm thế mà.. hu hu. Sao thầy không nói.. thầy chưa nói được à?
- Ta không ngờ con còn gọi ta là thầy.
- Sao lại không ạ? Thầy là người thầy đầu tiên. Hồi trước con ít gọi là thầy bởi con tưởng mình đã biết đủ. Bây giờ con mới biết là mình rất ngu ngốc đấy thậy ạ! Hè hè..
- Con học của ai điệu cười dị hợm thế.
- Của Lang Ma đấy. Có phải thầy đã dùng mê dược?
- Phải. Hàn Bích Liễu vừa nói chuyện xong với quân canh Đại La đã cho gọi ta ngay. Ta đoán lành ít dữ nhiều nên dùng ngay một liều mê dược. Mới nhìn thấy thấy, ta biết hắn đã tìm ra lời giải. Rồi ta sợ hắn chém vào cổ nên chủ động sấn vào.
- Thầy kể không đầu đuôi nên con chẳng hiểu gì cả. Nhưng thế là hắn đâm thủng bụng thầy? Thầy gục xuống nhưng mê đi cả do thuốc chứ không hẳn do nhát kiếm. Mê dược tác dụng khiến máu chảy ít hơn phải không ạ?
Cả đám há hốc miệng trước tính toán liều lĩnh và chuẩn xác đến lạ lùng của Dương Phong.
- Một phần phải cảm ơn Hàn Bích Liễu vì hắn cho rằng chỉ một kiếm là đủ giết ta nên không đâm vào lưng người đã ngã.
- Và vì thầy thần cơ diệu toán, đoán được con, người luôn có mặt đúng lúc, đến cứu thầy..
Dương Phong cười nói:
- Thầy vẫn tưởng con chỉ giỏi nói khoác. Tiểu Nhi nhăn nhó. Hoá ra thầy sai to.
- Ông không chỉ có một cái sai đó đâu! Một tiếng nói quen thuộc vang lên từ sau lưng.
- Nguyên soái. Mọi người vội vã nghênh đón
- Dương Đình Nghệ. Tiếng Dương Phong rành rọt. Ông đến muộn thì phải?
Ai nấy càng ngạc nhiên hơn khi nghe Nguyên soái đáp:
- Ta hẹn nửa đêm nhưng lúc này mới chớm giờ tý. Thế mà ông suýt không chờ nổi?
- Chỉ tại Hàn Bích Liễu sáng trí hơn tôi tưởng nhiều.
- Hắn chạy đằng nào rồi hả Ngô phó soái?
- Hắn đẩy quân lính ra chết thay còn mình thì trốn bằng cổng hậu. Tại ta không đặt trước phục binh mà cũng không ngờ Bách Thắng Tướng Quân lại hèn hạ đến thế!
- Nghĩa Đoàn đã cắt đường lên Thừa Hoá rồi. Dương Phong, ông biết hắn chạy đến chỗ nào phải không?
- Có thể là hẻm núi Thác thuộc dãy Cổng Trời. phía nam Bắc Vạn Lĩnh.