Chương V
Lưỡi dao lá liễu

     iếng còi tầu thủy mà Nguyễn Đoàn nghe trước khi toàn thân dập nát, cũng vẳng đến tai Văn Bình.
Đã 12 rưỡi đêm. Lại một ngày nữa trôi qua. Văn Bình vẫn không tiếp xúc được với Phong Trào Yêu Nước. Từ nãy đến giờ, chàng nghiền ngẫm về câu nói bằng tiếng Đức của Đoàn trên đường Bờ Hồ mà chưa xuyên thủng được nghĩa. Nghĩa đen dĩ nhiên chàng đã hiểu, nhưng còn nghĩa bóng ? Cũng có thể câu nói này không có nghĩa bóng vì Nguyễn Đoàn từng sống bên Đức, từng nói tiếng Đức quen và muốn dùng thứ tiếng ít ngưòi hiểu này để báo với chàng là địch đang bủa vây bốn mặt.
30 phút nữa chàng sẽ đánh điện cho ông Hoàng. Giờ này chắc ông Hoàng đang lênh đênh trên tàu ngầm ngoài khơi Hòn Nẹ, gần Sầm Sơn. Sở dĩ tiềm thủy đĩnh chở ông vào tận vùng địch, vì công tác giao cho Văn Bình thập phần quan trọng, ông cần có mặt tại chỗ để chỉ huy.
Khi chàng lên đường, ông Hoàng đã dặn đi dặn lại điều đó. Khác với bao điệp vụ đã qua, chuyến này ông yêu cầu chàng tuyệt đối thận trọng vì nếu hớ hênh trong hành động, hoặc hớ hênh trong việc chuyển tin, địch sẽ khám phá ra giềng mối của Tổ chức và nhất là tìm ra sự hiện diện của ông cách bờ biển Sầm Sơn ba bốn cây số.
Văn Bình mở nút chai bia Tiệp khắc, nốc một hơi hết sạch. Tuy chàng không thích uống bia nhưng ở đây dễ đâu tìm ra rượu huýt ky. Hai ngày ròng rã không được một giọt huýt ky vào dạ dầy đối với chàng dài như hai tuần lễ. Kỳ hạn ông Hoàng ấn định cho chàng là một tuần lễ.
Một tuần lễ là lâu nhất. Con tàu túc trực ngoài khơi sẽ nhô lên vào giờ và địa điểm đã định để đón Văn Bình, đưa về miền Nam vĩ tuyến 17. Nghĩ đến Nguyên Hương, cô thư ký riêng trẻ đẹp của ông Hoàng, Văn Bình cảm thấy thèm thèm, nước bọt tràn lên miệng. Gớm, công tác vùng địch sao chán thế ? Rượu không có mà uống, thuốc Salem cũng phải cai, rồi đến cái khoản mông và ngực mỹ nhân cũng bị liệt vào danh sách quốc cấm.
Trong khi chờ đợi, Văn Bình hút tạm điếu thuốc Thăng Long vậy. Có lẽ lần sau nếu còn phải nhảy dù xuống cái đất ‘’phải gió‘’ này, chàng sẽ chánh thức yêu sách ông Hoàng cho chàng mang theo ít nhất mấy bịch Salem, hai chai huýt ky và một xếp hình người đẹp. Nghĩ đến đó thấy thú vị chàng bất giác cười to một mình.
Mặc dầu trời đã khuya, khách sạn còn thức. Chàng có cảm tưởng là ban ngày ở đây dài vô tận. 1 giờ sáng. Văn Bình mở tủ áo lôi cái cặp đựng điện đài ra ngoài, với dáng điệu thành thạo, dáng điệu của những người không bao giờ có cử chỉ thừa cũng như cử chỉ thiếu. Văn Bình kéo cái ăng ten bằng sợi thép tí hon ra khỏi hộp máy vô tuyến điện, đoạn đính vào chấn song sắt cửa sổ. Cửa lá sách bên ngoài đã đóng kín.
Cửa phòng cũng đã được khóa chặt. Tuy dây trời ngắn ngủi và hình thù cái máy có vẻ giản dị, nó là loại máy đánh tin, nhận tin nhạy cảm và tối tân bậc nhất. Sở đặt mua tận bên Đức. Trong chớp mắt, ngọn đèn xanh, nhỏ bằng cái nút bấm, lóe lên những đợt sóng xanh biếc. Văn Binh cầm cần mã tự rồi theo nhịp ‘’moóc’’ đánh bản mật điện mà chàng vừa thảo cho ông Hoàng :
N.28 gởi H.H.
-69 bị địch bắt stop. Chưa rõ sống chết ra sao nhưng chắc là chết stop. Đã đến tiếp xúc hai nơi như đã định nhưng kết quả thất bại stop. Địch đã biết stop. Xin thêm chỉ thị stop. Hãy trả lời hồi 3 giờ sáng stop. Hết.
Văn Bình tắt điện đài. Bốn bề vẫn không có tiếng động khả nghi. Trong vòng 2 giờ đồng hồ ông Hoàng sẽ phúc đáp. Giờ đây chàng cần ngủ giấc nữa cho lại sức. Để nguyên quần áo, Văn Bình trèo lên giường và giấc ngủ đã đến với chàng một cách dễ dàng như tài xế lái xe hơi bằng nút số tự động và vô-lăng dầu.
Tiếng ồn ào từ dưới nhà vẳng lên đánh thức chàng dậy. Như máy, chàng quơ khẩu súng Mannlicher giấu dưới gối, bắp thịt duỗi ra, đôi mắt sáng quắc như muốn chọc thủng màn tối, một tay chống lên nệm giường, trong thái độ chờ đợi. Một phút trôi qua. Tiếng ồn ào thêm rõ. Tiếng xe hơi đậu lại, máy rú thật lớn trước khi tắt. Và là tiếng người nói dõng dạc giọng nhà binh.
Chắc họ khá đông căn cứ vào nhiều giọng nói khác nhau. Tại sao Văn Bình không nghe tiếng giầy?
Chàng sực nhớ ra ở đây họ đều dùng giép cao su ô tô chứ không dận giầy da lộp cộp. Tuy vậy chàng cũng nghe tiếng giép quét lệt xệt trên bậc thang: họ lên lầu. Rồi tiếng đập cửa ầm ỹ, kèm theo khẩu lệnh:
-Dậy, dậy mau các đồng chí. Công an.
Công an? Công an? Công an khám phá ra chàng rồi chăng? Nhìn cái điện đài nằm lỏng chỏng dưới bàn viết, Văn Bình giật mình như bị ong đốt. Loáng một cái chàng cất máy vào chỗ cũ, phủ mấy chiếc sơ mi nâu lên trên rồi bước rảo ra cửa phòng, rút then mở cửa hé, đoạn trèo lên giường, chui vào mền giả vờ ngáy o o.
Tiếng đập cửa mỗi lúc một gần. Đã đến giãy phòng bên. Sau cùng đến phòng 217, phòng của Văn Bình. Chàng nghe rõ tiếng chân nhiều người đứng trước cửa rồi tiếp theo là tiếng gõ thật mạnh. Tiếng một người có lẽ là cấp chỉ huy:
-Ai trọ ở đây?
Tiếng người công an thường trực của khách sạn:
-Thưa đồng chí, đây là phòng đồng chí tỉnh ủy Hà Tĩnh, Đặng Thái Trinh.
-Đặng Thái Trinh? Chà tên nghe quen quá?
Chết rồi ! Văn Bình chạm trán một người đồng hương với ông cán bộ Hà Tĩnh giả hiệu. Chàng vẫn chùm chăn kín mít. Một tiếng khác :
-Ơ kìa, cửa phòng không khóa, đồng chí Trinh đi vắng hả ?
-Thưa, đồng chí ấy đang ở nhà.
Đèn bật sáng. Văn Bình giả vờ tung mền, dụi mắt. Tiếng người Công an thường trực:
-Xin lỗi đồng chí. Có đồng chí trưởng ban Khám Xét Khách sạn đến kiểm điểm giấy tờ. Xin đồng chí xuất trình chứng minh thư.
Văn Bình tạo một bộ mặt và nụ cười ngoại giao với gã chỉ huy. Tuy bề ngoài thản nhiên, lòng chàng hồi hộp vô cùng. Trong đời, chàng ít khi dùng khí giới hộ thân. Lần này, chẳng hiểu sao chàng lại mang súng và nhét nó dưới gối. Trong khi ấy, một công an viên tiến lại giường chàng sát cái gối dấu súng.
Văn Bình đâm ra oán trách ông Hoàng đã quá cẩn thận để thành thiếu sót. Cẩn thận từ cái may ô, cái xì líp, đến miếng giấy vụn trong túi áo Đặng Thái Trinh mà quên cấp cho chàng một giấy phép đeo súng và giữ súng. Thì ra trên đời, và nhất là trong nghề phức tạp này, không có ai dám tự hào là chu toàn. Văn Bình móc túi lấy chứng minh thư. Gã chỉ huy liếc qua rồi hỏi, giọng thân mật:
-A, đồng chí quê ở Hương Khê?
-Vâng ở Hương Khê.
-Quái sao giọng đồng chí lại hao hao như tiếng Nghệ?
Chết rồi! Chàng là người Bắc, tuy nói thạo giọng đàng trong nhưng chưa phân biệt được cái tế nhị giữa tiếng Hà tĩnh và tiếng Nghệ. Ấy thế mà chuyên viên của Sở cứ tấm tắc khen chàng là nói hệt cán bộ Hà tĩnh.
Văn Bình mỉm cười:
-Chà, bây giờ ai lại không pha tiếng. Đồng chí quên là trong 10 năm kháng chiến người tỉnh này chuyển qua tỉnh khác nên không còn đúng giọng địa phương. Như đồng chí Võ nguyên Giáp, đồng chí Đặng thái Mai ấy? Bây giờ các đồng chí ấy còn chút nào là giọng Nghệ Tĩnh đâu?
Viên chỉ huy gật đầu, tán thành:
-Đúng.
Hắn trả chứng minh thư cho chàng, rồi đổi giọng:
-Xin đồng chí vui lòng. Thường thường công tác hộ khẩu ở đây được giao cho mấy đồng chí thường trực phụ trách, một vài tháng tôi mới đến một lần. Nhưng tối qua thượng cấp ra lệnh cho tôi đích thân đến các nhà trọ và khách sạn, khám giấy tờ và kiểm soát căn cước hành khách.
-Chắc lại có chuyện gì?
-Phải, để tìm bắt một tổ chức gián điệp vừa nhảy dù xuống gần thủ đô. Địch nhảy dù xuống khá nhiều nên ta phải tăng cường quản lý hộ khẩu.
-Hừ, bọn chúng muốn vào nhà thương Vôi chắc! (1)
(1) nhà thương điên ở Hà nội
Gã chỉ huy cười the thé:
-Đồng chí nói phải. Sớm muộn ta sẽ phát hiện ra bọn gián điệp ngu xuẩn.
Đoạn hắn ra lệnh cho thuộc viên đi theo:
-Các đồng chí chia nhau vào lục soát đi.
Một tên vào phòng tắm, một tên khác mở cửa tủ lục lọi bên trong. Tim Văn Bình đập thình thịch trong lồng ngực. Chợt tên công an thương trực trong khách sạn khoa tay:
-Có gì mà khám? Chả lẽ gián điệp địch lại núp sau đống quần áo của đồng chí Trinh?
Văn Bình cười theo:
-Trừ phi gián điệp địch nhỏ bằng con chuột?
Sự pha trò của chàng có kết quả. Cánh cửa tủ vừa mở ra đã được đóng sầm lại.
Nhưng họa vô đơn chí!
Dường như mỏi chân, gã chỉ huy xô cái gối của chàng sang bên, định ngồi tạm xuống mép giường. Hắn thấy khẩu Mannlicher liền day lại hỏi Văn Bình:
-Đồng chí có súng à?
Văn Bình thản nhiên đáp:
-Vâng. Đảng ủy cấp cho tôi vì tình hình Liên khu IV chưa được ổn định.
-Khẩu Mannlicher của đồng chí đẹp ghê!
-Vâng, loại súng của Áo chế ra thường xinh gọn, bắn lại ít giật.
Một công an viên hỏi:
-Đồng chí có giấy phép dùng súng chứ?
Văn Bình cười khẩy:
-Dĩ nhiên. Cái đồng chí này mới lạ! Đại diện của tỉnh bộ đi công tác xa lại quên giấy phép súng? Hay là đồng chí nghi tôi là gián điệp địch?
Tên công an cãi:
-Em đâu dám thế. Em chỉ nhắc lại một điểm thủ tục.
-Đồng ý. Nhưng chúng ta nên biết phân biệt giữa bạn và thù. Đồng chí Lê quốc Thân (1) cũng căn dặn như vậy. Đây, nếu đồng chí hạch tôi, bắt tôi nộp cả giấy súng tôi cũng xin tuân lệnh.
(1) bộ trưởng Bộ Công An.
Văn Bình nói bằng giọng sẵng và tức tối. Nói xong, chàng giả vờ quay về phía tủ. Chàng đoán không sai, tên công an thường trực mà khi mới đến chàng đã ‘’bịt mõm’’ bằng chiếc đồng hồ Oméga mới tinh đã cứu chàng. Hắn can thiệp:
-Thôi, chẳn qua vì hiểu lầm cả. Xin đồng chí Trinh bớt giận.
Rồi ngoảnh sang viên chỉ huy:
-Mời đồng chí sang phòng 219.
Cả bọn lục tục kéo đi. Hú vía! Hai lần trong hai ngày Văn Bình suýt được làm thượng khách của Sở Công an Bắc bộ.
Đợi một lát sau, khi cuộc khám xét đã xong, chàng quay lại điện đài. Sắp đến giờ ông Hoàng trả lời. Dầu muốn dầu không, chàng chỉ còn trọ đêm cuối cùng ở khách sạn Hòa Bình mà thôi. Trước kia, chàng đội lốt Đặng thái Trinh vì vai trò của chàng chưa lộ. Địch kiểm điểm hộ khẩu, tất danh sách mọi khách sạn, quán trọ sẽ được soát kỹ. Chậm lắm là chiều mai, Công an Hà nội sẽ nhận được phúc điệp của ủy ban hành chánh Hà Tĩnh rằng Đặng thái Trinh là cán bộ ma.
Sau khi quan sát hành lang, và khóa chặt cửa phòng, Văn Bình vặn công tắc cho máy vô tuyến chạy. 30 giây đồng hồ sau chàng nhận được phúc điệp của ông Hoàng. Hai tai dán vào ống nghe tay phải hí hoáy cây bút chì, Văn Bình tập trung ý chí vào việc thu điện và dịch luôn trên giấy. Buổi phát thanh kéo dài đúng một phút, và 60 giây sau, chàng đã dịch xong bức mật điện.
H.H gửi Z.28.
Áp dụng kế hoạch AODS stop. Hôm nay sẽ có tiếp xúc tại khách sạn stop. Hãy y hẹn tại MHFQ stop.
 Hết.
Đọc xong bức điện dịch, Văn Bình cảm thấy bồ hôi nhơn nhớt sau gáy. Kế hoạch AODS được ghi trong bức điện là kế hoạch nguy hiểm bậc nhất mà các tổ chức do thám trên thế giới chỉ áp dụng trong trường hợp tuyệt vọng: đó là nhân viên hoạt động trong vùng địch sẽ đến nơi chàng trọ để tiếp xúc, chứ không phải chàng đến tìm họ.
Tức là nội ngày nay Văn Bình không được đi đâu. Chàng phải nằm lì trong khách sạn Hòa Bình để chờ một nhân viên của Phong Trào Yêu Nước đến gặp chàng. Thế mới nguy! Khách sạn Hòa Bình không còn là nơi an toàn nữa. Chẳng sớm thì muộn, sớm là buổi trưa, muộn là buổi chiều hay tối, Công an sẽ phăng ra tông tích Đặng thái Trinh, và chàng sẽ sa lưới. Khách sạn Hòa Bình tọa lạc ở trong một khu vực nhà cửa thưa thớt, trong trường hợp bị bao vây chàng ít hy vọng thoát thân. Bỏ khách sạn đi, chàng sẽ làm hỏng kế hoạch của ông Hoàng, và mất liên lạc với Phong Trào Yêu Nước. Tuần sau, mặt mũi nào chàng dám tới địa điểm MHFQ, trèo xuống tàu ngầm trở về Sàigòn nữa.
Bên ngoài, trời dần dần sáng rõ. Quang cảnh sáng chủ nhật tấp nập hơn ngày thường. Qua cửa sổ, Văn Bình thấy một toán thiếu nữ đang hò dô ta đẩy chiếc xe bò đầy rác. Họ đều mặc đồ đen ngắn, quần rộng thùng thình, áo cán bộ cổ bẻ, tóc cắt cũn cỡn, mặt xạm nắng, thân hình gày gò. Một nỗi buồn man mác dâng lên trong lòng chàng. Chàng bỗng nhớ đến những tấm thân đều đặn, nõn nà, quyến rũ, nằm dài phơi nắng buổi sáng chủ nhật trên bãi biển, hai trái tuyết lê vĩ đại rún rẩy sau làn vải bikini mỏng tanh như giấy bóng.

*

8 giờ sáng. Văn Bình xuống đường lững thững lại Hàng Lọng ăn điểm tâm. Một tô cháo đậu xanh ăn với đường, xúc miệng bằng nước vối, một điếu thuốc lá Thăng Long… Thế là hết. Mặc dầu là cán bộ tỉnh ủy, Đặng thái Trinh xuất thân làm tá điền, không biết uống cà phê sữa, và ăn bánh mì dăm bông, trứng lập-là buổi sáng. Mùi nước vối làm Văn Bình lợm giọng. Chàng có thói quen điểm tâm bằng rượu huýt-ky. Đã hai ngày, chàng không có giọt huýt-ky nào vào miệng.
Lót dạ xong, chàng ngồi trong góc, đọc tờ Thủ đô Hà nội vừa mua. Ở trang hai, mục tin tức thủ đô đăng một tin ngắn như sau: Cháy xe hơi.
Tối qua, xế quán bán hoa Bờ Hồ, đã xảy ra một vụ cháy xe hơi vì bất cẩn. Tài xế say rượu đâm vào cây đa, điện bắt qua bình xăng và gây ra hỏa hoạn. Hai người trên xe đã được chở vào bệnh viện cấp cứu. Nhà chức trách đang tiến hành cuộc điều tra.
Cuối trang hai còn một tin khác.
Một điểm son cho Công an.
Tối qua, một can nhân, lợi dụng sự đối xử khoan hồng của Nhà nước, đã trốn khỏi nơi giam. Y bị nhân viên Công an phát lộ tại Bờ Hồ Hoàn Kiếm và bắt giữ sau khi bắn nhiều phát súng cảnh cáo.
Văn Bình đút tờ báo gập nhỏ vào túi, uể oải bước ra ngoài. Đột nhiên thành phố Hà nội trở nên xa lạ đối với chàng, tuy chàng đã thuộc lòng từng ngõ hẻm, từng cây sấu, từng rạp xi-nê. Chàng tản bộ qua phố Hàng Đồng, theo lời dặn của người phụ tá hoa tiêu trước khi chàng nhảy dù, để chiêm ngưỡng dung nhan của cô nhân tình bé bỏng, song chàng không thấy gì hết ngoại trừ một thiếu phụ bụng chửa vượt mặt, tóc tai rối bù, áo quần nhàu nát và da dẻ mốc thếch đang ngồi bệch xuống đất nhón cơm cho một đứa bé lên hai gầy ốm. Qua phố Hàng Than, mùi bánh cốm thơm ngát ngày xưa không còn nữa, nhường chỗ cho những quán ăn ồn ào, xộc xệch và bẩn thỉu. Tiệm phở Cầu Gỗ ngon nhất Hà nội, với loại cà phê phin đặc biệt, uốn vào thì sắt đá cũng trở nên mơ màng, đã dọn đi đâu không biết.
Về đến khách sạn chàng gặp người công an thường trực đã bênh chàng hồi đêm. Hắn cười ngoại giao:
-Đồng chí đi đâu về thế? Chưa lên Bộ à?
-Mai mới lên, đồng chí ạ. Đồng chí không ngủ sao ? Làm việc cả đêm, mệt quá nhỉ !
-Cũng chưa mệt bằng đồng chí ở ủy ban tỉnh.
Cả hai cùng cười, Văn Bình giơ tay chào ông thơ ký già ngồi sau quầy rồi lên gác. Sực nhớ ra, chàng quay xuống nói :
-Lát nữa tôi có khách quen tới thăm, phiền cụ chỉ đường cho họ lên gác.
Viên thư ký già gật đầu. Gã công an nheo một con mắt lại, rồi nói :
-Luật lệ cấm không được hủ hóa ! Mang nữ đồng chí lên phòng mà lăng nhăng thì có là…
Không nói hết, hắn nhăn răng cười. Chàng đã đoán được ý hắn. Một cái bút máy nữa. Cái bút máy Trung cộng đắt tiền mà chàng giắt nghênh ngang ở mép túi…
Suốt ngày Văn Bình chỉ ăn rồi ngủ. Tàn thuốc chất đống, được chàng gói đầy một tờ báo cùng với mẩu thuốc hút dở. Nghĩa là chàng hút hơn 5 gói Thăng Long. Chàng cần hút nhiều để chờ đợi và suy nghĩ. Vì đây là lần đầu ông Hoàng yêu cầu chàng áp dụng kế hoạch AODS. Và cũng là lần đầu ông Hoàng đề ra một cuộc tiếp xúc không hẹn giờ.
Ngày hôm nay… Như vậy tức là mấy giờ mấy phút ? Theo lệ thường, những cuộc tiếp xúc giữa nhân viên điệp báo được tính đúng từng phút. Thế mà lần này ông Hoàng không đếm xỉa đến cả giờ nữa. Tại sao ? Có lẽ bên trong có sự trục trặc.
Chàng giật mình vì có tiếng gõ cửa. Đồng hồ tay chỉ đúng 6 giờ 2 phút. Trời mùa đông ở Hà nội đổ tối một cách gấp gáp. Không vặn đèn, chàng đút khẩu súng vào túi rồi bước nhẹ ra cửa. Kinh ngạc xiết bao, trước mặt chàng không phải là nhân viên công an mà là một thiếu phụ. Nàng không đẹp nhưng có má lúm đồng tiền. Nước da xanh, khuôn mặt hơi dài điểm cặp mắt đen láy, cái mũi xinh xinh. Nàng trạc 30 tuổi.
Nàng cúi đầu chào chàng trước. Chàng dạt sang bên mời nàng vào phòng. Khóa cửa lại, chàng vào sau. Khi ấy thiếu phụ đã ngồi ghé trên chiếc ghế gỗ gần giường. Chàng nhận thấy thiếu phụ có vẻ sợ hãi. Nàng chỉ ngồi một nửa mặt ghế, dường như để đứng lên cho dễ. Hai tay nàng mân mê cái xắc vải đặt trên lòng cử chỉ bối rối. Văn Bình hỏi nho nhỏ :
-Bà muốn hỏi tôi về việc gì ?
Thiếu phụ cố trấn tĩnh, hỏi lại :
-Tên ông là Đặng thái Trinh từ Hà Tĩnh tới ?
Văn Bình gật đầu, rút ví lấy giấy tờ cho thiếu phụ xem. Đọc xong, trả lại cho chàng, thiếu phụ đổi giọng :
-Tôi ở ADNS tới. Còn ông ?
Văn Bình đáp :
-KLMH.
-Vâng. Đây là những điều tôi được lệnh chuyển đến cho ông.
Rồi bằng giọng đều đều, nho nhỏ, thiếu phụ nói một hơi như người đọc thuộc lòng : Yêu cầu ông đến số nhà 72 Huyền Trân Công Chúa. Người ta đợi ông ở đấy. Nên nhớ : đến nơi nhưng không vào trong nhà, đứng trên bậc tam cấp, lưng quay ra ngoài. Đúng 7 giờ tối nay. Hết.
-Bà không dẫn tôi đi ?
-Không được. Địch vây kỹ lắm.
Thiếu phụ đứng dậy, không chào chàng, rảo nhanh ra ngoài. Chàng lặng nhìn nàng đi khuất sau cầu thang. Hành lang chưa lên đèn. Có lẽ chiều chủ nhật đồng chí công an muốn tiết kiệm tiền cho Đảng.
Đột nhiên, ruột chàng nóng như lửa đốt. Giác quan thứ sáu báo hiệu một sự nguy hiểm. Chàng đảo mắt chung quanh. Không có một ai. Chàng đứng nép một bên khung cửa sổ lớn nhìn xuống đường. Cửa sổ này không có cánh cửa và cũng không có chấn song.
Dưới đường, sát lề, một chiếc xe Pobieda đen xì vừa đậu xịch. Cửa sau mở rộng. Hai gã đàn ông vạm vỡ nhảy xuống, tay thọc túi quần một cách khả nghi. Văn Bình chợt hiểu. Họ đến để bắt thiếu phụ. Nghĩa là khách sạn đã bị bao vây như lời nàng nói. Nghĩa là vai trò Đặng thái Trinh đã bị lộ. Tuy nhiên chàng chưa rõ họ muốn bắt chàng hay bắt thiếu phụ. Chàng nán chờ một phút nữa xem sao.
Thiếu phụ vượt qua đường. Dường như nàng linh tính thấy chuyện chẳng lành nên mới được phần ba đường nàng đột ngột dừng lại, rồi lùi lại vào hè. Nhanh như cắt, hai gã đàn ông chạy sang bên lề khách sạn. Không lầm được nữa, họ thộp thiếu phụ để phăng đầu mối liên lạc. Thiếu phụ vùng vẫy trong cánh tay sắt của hai gã đàn ông. Một tia sáng lóe ra trong óc Văn Bình. Lát nữa, chiếc xe Pobieda sẽ chở thiếu phụ bất hạnh về Nha Công an Bắc bộ. Nàng sẽ bị lôi sang phòng tra tấn. Mọi cực hình trên thế gian này đang chờ đợi nàng.
Hồi nãy, sau một phút đồng hồ tiếp xúc, chàng biết nàng chưa có kinh nghiệm trong nghề. Vả lại dầu có kinh nghiệm, sức đàn bà cũng khó cưỡng lại sự tra khảo dã man của địch. Trước sau, nàng cũng phải khai. Khai hay không khai, nàng cũng phải chết. Không khai, thân thể nàng sẽ bị vằm nát, nàng sẽ hấp hối hàng giờ, hàng ngày. Khai ra, cơ sở hữu hiệu mà ông Hoàng lao tâm khổ trí dựng nên sẽ bị phá hủy.
Văn Bình không được quyền trù trừ nữa. Chàng nghĩ đến làn da trắng muốt của thiếu phụ sắp bị phơi trần dưới ánh đèn sáng quắc. Tấm thân nõn nà cân đối ấy trước hết sẽ làm mồi ngon cho thần nhục dục. Rồi mới hành hạ. Máu trong tim chàng sôi lên. Chàng phải cứu thiếu phụ.
Nhưng cứu ở đây không có nghĩa là chàng bắn chết hai gã đàn ông rồi mở lối cho nàng thoát. Trong xe Pobieda ít nhất còn hai tên khác, và ít nhất một khẩu tiểu liên hườm sẵn. Tiếng súng chát chúa của chàng sẽ báo hiệu cho bọn công an vây khách sạn chặt chẽ thêm, và lối thoát của chàng sẽ bị tắt nghẽn.
Chỉ còn một cách. Đó là cứu nàng khỏi cảnh tra tấn. Cứu nàng bằng cách hạ thủ nàng. Nhưng hạ thủ êm nhẹ, hạ thủ không làm nàng đau đớn và không gây tiếng động.
Hai gã đàn ông đã kéo thiếu phụ sềnh sệch đến nửa đường. Văn Bình luồn tay vào túi áo, rút ra lưỡi dao mỏng dính, và sắc bén dị thường. Ném dao là nghề mọn của chàng từ bao năm nay. Văn Bình nghiêng mình lấy trớn rồi vung bàn tay phải ra phía trước. Lưỡi dao xé màn không khí bay xuống đường, cắm phập vào gáy thiếu phụ. Trời hơi tối, đèn ngoài phố đã bật. Lưỡi dao xuống nhẹ quá, ngọt quá, không ai hay biết. Thiếu phụ tự nhiên mềm nhũn người, rồi gục xuống, hai gã đàn ông sốc nách không lên được nữa. Thiếu phụ đã chết. Chết không kêu được một tiếng.
Văn Bình chỉ quơ cái cặp đựng điện đài, không kịp mang thêm quần áo, chạy ù ra cầu thang cấp cứu ở sau nhà. Trụt xuống được mấy bậc, Văn Bình hãm lại, bám thanh cầu thang bê-tông, đu mình nhảy xuống sân khách sạn. Biết không thoát nổi bằng cửa sau và trèo tường, Văn Bình bèn liều mạng xông ra cửa trước. Hành động đầu tiên của chàng là mở cửa phòng của người công an thường trực. Hắn không kịp mở miệng kêu. Cái bạt tai của Văn Bình mạnh ngang sống dao rựa. Hắn ngã vật, nét mặt còn đầy vẻ kinh ngạc. Văn Bình mặc đồng phục Công an vào mình, chụp mũ lưới lên đầu, tay xách cặp điện đài, tay kia cắp khẩu tiểu liên Trung Cộng.
Trù trừ một giây, Văn Bình đặt cái cặp xuống bàn, thò tay vào trong bấm nút ‘’cái phá‘’. 60 giây nữa, cái cặp sẽ nổ tung. Đây là ‘’cái phá‘’(1) đặc biệt do một công ty Tây Đức chế tạo, có sức nổ khá mạnh. Văn Bình ung dung ra cửa. Chàng gặp ba người mặc thường phục, cầm súng ngắn le te chạy vào. Họ không nhận ra chàng là cớm giả hiệu. Xác thiếu phụ nằm sóng sượt trên mặt đường, hai gã đàn ông khác cầm súng đi đi lại lại.
(1) lệ thường, điện đài gián điệp được gắn một ngòi nổ đặc biệt, gọi là ‘’cái phá‘’. Nhờ ‘’cái phá‘’, điện đài không thể rơi vào tay đối phương.
Cũng may là tối chủ nhật nếu không chàng đã gặp lão thư ký già. Chàng vượt khỏi bực tam cấp thì một tiếng nổ dữ dội phát ra : tiếng nổ của ‘’cái phá‘’. Nền đất rung chuyển, một căn phòng bị sạt, gạch đá tung bay mù mịt.
Văn Bình rút lựu đạn, tháo gúp pi ném về phía xe hơi Pobieda. Đoàng ! Chiếc xe nổ tung. Tiếng súng bắt đầu lác đác nổ. Văn Bình nã thêm loạt đạn tiểu liên vào xe hơi và hai gã đàn ông đang chạy bán sống bán chết. Rồi chàng thản nhiên men theo mái hiên về hướng Khâm Thiên.
Thoáng thấy bóng người chạy theo, chàng tặng thêm một loạn đạn. Cách khách sạn Hòa Bình một quãng ngắn là một quán ăn cán bộ đông đúc. Xe đạp, xe gắn máy xếp chặt vỉa hè. Thực khách chen nhau, lố nhố chỉ trỏ về khách sạn.
Chàng liếc nhìn một cái xe đạp đàn bà, bánh lớn, nằm lỏng chỏng ở góc. Như thể là chủ nhân Văn Bình dựng chiếc xe lên, từ từ giắt ra đường cái rồi trèo đạp một mạch. Chàng thẳng đường ven hồ Bẩy Mẫu đạp đến Chợ Hôm. Dọc đường, tìm chỗ vắng, chàng ném khẩu súng xuống bãi cỏ. Từ Chợ Hôm chàng bách bộ lại đường Huyền Trân Công Chúa. Còn sớm chán. Mới 7 giờ kém 10.
Chàng gõ bước một như ngưòi nhàn du, xuống góc đường Huyền Trân Công Chúa. 7 giờ kém 2 phút, chàng dừng chân trước số nhà 72. Đó là một biệt thự lối xưa, hai tầng, bên trong không có đèn. Như lời thiếu phụ dặn hồi nãy, chàng đứng ngay cửa ra vào, quay mặt vào trong.
Một chiếc xe hơi kiểu Tatra sơn đen rừ rừ lái sát lề dường bên số chẵn. Văn Bình ngoảnh đầu lại quan sát. Nhưng một tiếng nói đã cất lên :
-Yêu cầu bạn quay mặt vào trong vì an ninh chung. Mật khẩu?
Văn Bình tuân lệnh. Chàng đáp:
-AODS.
Vẫn tiếng lúc nãy:
-KLMH. Thôi được. Mời bạn ra xe.
Văn Bình trèo lên xe. Hai người mặc áo mầu, cụt tay, bỏ ngoài quần, ngồi ép hai bên. Tài xế sang số chạy về phía Bạch Mai. Được một quãng, người vừa ra lệnh ôn tồn nói:
-Theo lệnh trên, yêu cầu anh để chúng tôi bịt mặt.
Văn Bình phản đối song hai miệng súng đen ngòm đã châm vào hông chàng. Chàng bàng hoàng như người vừa thoát cơn mộng này lại rơi vào cơn mộng khác. Chàng có cảm tưởng là bị sa bẫy.
Trong một tích tắc đồng hồ, chàng ước lượng tư thế của hai người ngồi bên. Nếu nhanh tay, chàng có thể gạt hai mũi súng ra ngoài, nhưng trong trường hợp đối phương phản ứng cũng nhanh không kém thì chàng sẽ ăn đạn.
Dầu sao, đến nước này chàng đành phải liều. Tuy nhiên họ không cho chàng liều nữa. Trước khi hiệu lệnh của óc được truyền xuống hai tay chàng thì một bá súng vào sau sọ đã làm chàng nổ đom đóm mắt. Tay chàng mềm nhũn, trước mặt chàng, con đường Bạch Mai dựng thẳng lên như cây cột đèn cao vô tận. Rồi cây cột đèn ấy lật ngược vào người chàng. Không la được một tiếng, Văn Bình gục đầu mê man.
Chiếc Tatra nhỏ bé vẫn nuốt đường trong đêm tối.