Kim Thế Di vừa lo vừa giận, chàng không có lòng nghe tiếp, vừa thấy tên đồ đệ của Mạnh Thần Thông cầm roi bước ra thì lập tức lẳng lặng bám theo. Nhưng hán tử ấy đi tới trước bộ hòn non bộ thì hắng giọng, khẽ gọi: “Lục sư đệ, thất sư đệ” đã y không nghe thấy tiếng trả lời thì hơi ngạc nhiên, thế là đưa tay ra xoay hòn non bộ hai vòng, hai tảng đá đột nhiên tách ra, lộ một cánh cửa. Kim Thế Di cả mừng, nghĩ thầm: “Té ra bọn chúng nhốt Tâm Mai muội muội ở đây!” 
Ngay lúc này chợt nghe tiếng chuông tiếng trống ở ngoài vườn vang dậy, có người kêu lên: “Kim Thế Di đã vào trang!” “Ai nấy đứng yên chỗ cũ, không được rối loạn đợi sư phụ ra bắt y.” Hán tử ấy định chạy vào sơn động, chợt nghe Kim Thế Di đã vào thì thất kinh, bất đồ quay đầu lại, nào ngờ Kim Thế Di đã đứng ở sau lưng y.” 
Nói thì chậm, sự việc diễn ra rất nhanh, Kim Thế Di không đợi y lên tiếng, tay phải đã đánh ra một chiêu Kính Đức đoạt tiên chụp cổ tay của y, tay trái xỉa vào huyệt khiếu âm của y. Hán tử toàn thân cứng đờ, Kim Thế Di giật cây roi rồi tung cước đá y bật ra. Chàng quay dầu lại nhìn chỉ thấy bóng đen thấp thoáng, nhưng lại không thấy có người chạy về hướng của mình. Té ra không phải vì Kim Thế Di bám theo hán tử này mà bị phát hiện mà là khi chàng vào trong trang chỉ điểm huyệt hai tên đệ tử của Mạnh Thần Thông nằm yên trong vòng một canh giờ, thế nhưng hai tên này cũng có được hai phần bản lĩnh của sư phụ, cho nên vận khí phá giải, không đầy nửa canh giờ thì đã giải được huyệt đạo. Bọn chúng có thể lên tiếng, cho nên Kim Thế Di mới bị lộ.
Kim Thế Di nhân lúc Mạnh Thần Thông chưa đến, thầm nhủ: “Tốt xấu gì cũng phải cứu Tâm Mai ra.” Thế rồi vung cây roi vào trong động, chỉ cảm thấy đầu roi chạm phải hai người, nhưng hai người này lại không chống cự, chẳng giống người sống, Kim Thế Di giật mình bước vào trong động, ngưng thần nhìn vào, trong bóng tối lờ mờ chàng vẫn có thể nhận ra ở dưới đất có hai hán tử, Kim Thế Di tung ra một cước nhưng cả hai đều không có phản ứng, khi sờ mũi thì thấy đã đứt hơi từ lâu. Kim Thế Di thất kinh, thầm nhủ: “Hai kẻ này chắc là lục sư đệ và thất sư đệ của tên lúc nãy, nhưng ai đã giết bọn chúng?” Nhưng tình thế lúc này rất cấp bách, Kim Thế Di không kịp suy nghĩ, chàng đưa mắt nhìn tới thì thấy trong góc động có một bóng người ốm yếu nằm co quắp, Kim Thế Di vừa kinh vừa mừng, khẽ kêu: “Tâm Mai muội muội, ta đến đây!”
Bóng đen ấy chợt lên tiếng: “Ta biết thế nào ngươi cũng tới!” trong khoảnh khắc điện quang hỏa thạch ấy, Kim Thế Di chợt cảm thấy cổ tay bị nắm chặt, hổ khẩu đã bị một cái cương tráo chụp chúng, lúc này Kim Thế Di đã nhìn rõ, té ra đó chẳng phải là Lý Tâm Mai mà là nàng thiếu nữ che mặt đêm qua, lúc này nàng đã lột mạng che mặt, nàng lạnh lùng nói: “Không được đến gần, nếu không ta nhả lực ra bóp nát xương cổ tay của ngươi, dù ngươi có giết ta thì cũng đã tàn phế!”
Đây là lần đầu tiên trong đời Kim Thế Di bị người ta ám toán, chỉ nghe thiếu nữ ấy lại nói: “Có phải ngươi đến cửu nữ đệ tử họ Lý của phái Thiên Sơn không?”
Kim Thế Di ngầm vận nội kình, đột nhiên cười lạnh: “Muốn ám toán ta cũng đâu dễ?” Chàng dùng công phu Xúc cốt, thiếu nữ ấy nhận ra, chưa kịp siết cương trảo thì bàn tay nàng đã trượt ra ngoài.
Kim Thế Di chưa kịp ngừng cười, nàng đã sớm thu lại cương trảo, rồi cười nói: “Uổng cho người là Độc thủ phong cái, đã trúng độc mà cũng không biết. Kim Thế Di giật mình, phát giác mạch môn hơi ngứa chàng thử vận chân khí đẩy ra, cổ tay đã đau đớn như bị dao cắt. Kim Thế Di lớn lên ở Xà đảo, tuy bản thân không thích dùng độc nhưng là đại hành gia của môn này, biết nàng ta đã nói thật, nghĩ bụng cây cương trảo của nàng chắc có chất kịch độc, lúc nãy mình chỉ muốn rút tay ra, nhưng lại để cho cương trảo của nàng cào rách da. Kim Thế Di cố nén cơn giận, cười lạnh nói: “Trước khi ta phát độc cũng có thể giết chết ngươi, ngươi có tin không?” Thế là chụp hai tay của nàng.
Chàng trợn trừng mắt, nhìn nàng chằm chằm, toan hù dọa ra sau đó sẽ hành hạ nàng. Với võ công của nàng thiếu nữ,tuy không thể là đối thủ của Kim Thế Di nhưng nếu muốn chống cự thì vẫn có thể được một lúc, Kim Thế Di không ngờ rằng nàng chẳng hề chống lại, khi nhìn vào mặt nàng thì chẳng có vẻ gì là sợ hãi. Kim Thế Di ngạc nhiên lắm, chỉ nghe nàng khẽ cười “Ta tin rằng ngươi có bản lĩnh giết ta. Nhưng chúng ta cần gì phải lưỡng bại câu thương? Ngươi vẫn chưa đáp lời ta, có phải ngươi đến đây cứu nữ đệ tử họ Lý của phái Thiên Sơn không?” 
Kim Thế Di đang nôn nóng biết tung tích của Lý Tâm Mai, chỉ đành đáp: “Đúng thế. Lý cô nương đang ở đâu?” nàng thiếu nữ trả lời: “Nếu là thế có phải ngươi cũng đến kiếm Mạnh Thần Thông tính sổ không?” Kim Thế Di nói: “Nói mau, ngươi rốt cuộc có gặp Lý cô nương không?”
Thiếu nữ ấy từ tốn trả lời: “Cần gì phải nôn nóng như thế, khu vườn này rất rộng, bọn chúng không ngờ rằng ngươi nấp ở nơi này. Trước khi Mạnh Thần Thông tìm ra ngươi, chúng ta vẫn còn thời gian trò chuyện” Từ trước đến giờ Kim Thế Di chỉ bỡn cợt người khác, nhưng lần này đành phải bó tay, chàng gằn giọng nói: “Ngươi muốn nói gì?”
Nàng thiếu nữ nói: “Đêm qua ta không biết ngươi giúp ai, sau đó ta thấy ngươi chế phục đệ tứ của Mạnh Thần Thông, lẻn vào Mạnh gia trang mới đoán được vài phần. Chả lẽ ba kẻ vây đánh ta đêm qua cũng do ngươi hạ?” Kim Thế Di nói: “Ngươi biết thì tốt, tại sao ngươi còn lấy ân báo oán?” Thiếu nữ cười: “Lúc đó ta vẫn chưa biết. Huống chi lòng người hiểm ác, ngươi lại là một kẻ ma đầu, ta với người bèo nước gặp nhau, ta làm sao có thể hoàn toàn tin tưởng ngươi?” kêu đồng bọn rút lui. Những kẻ chưa bị thương và bị thương nhẹ đỡ những người đã bị thương nặng vượt tường tháo chạy, Trần Thiên Vũ và U Bình tuy đã toàn thắng nhưng họ cũng chẳng biết tại sao mình đã thắng!  U Bình đút kiếm vào vỏ, phất ống tay áo quạt khí âm hàn ra, xé một mảnh áo băng vết thương cho chồng rồi nói: “Không biết là cao nhân phương nào đã ngầm giúp chúng ta? Chàng có đau không?” Trần Thiên Vũ nói: “May mà không trúng xương. Không biết mùi hương hoa A Tu la từ đâu tới!” U Bình định hỏi hoa A Tu la là gì, chợt thấy Giang Nam tập tễnh bước ra, mặt lộ vẻ lo lắng, nói: “Công tử, tôi đã dắt nhầm kẻ thù đến nhà, công tử hãy xử phạt.” Trần Thiên Vũ nhíu mày nói: “Từ rày về sau phải cẩn thận hơn! Mau kêu người nhà rửa sạch vết máu dưới sân. Chuyện lúc nãy đừng nói ra ngoài.”
Giang Nam vâng một tiếng, chàng chợt ngẩn người ra, lúc này sương lạnh của Băng phách thần đạn đã tan theo gió, U Bình nhìn theo ánh mắt Giang Nam, chỉ thấy dưới gốc hòe trong sân có một thiếu nữ che mặt đang ngồi, trên tay nàng là một đóa hoa đã khô. Đóa hoa có hai màu đỏ và trắng trông rất kỳ lạ. Trước kia khi còn ở trong băng cung, U Bình đã thấy rất nhiều loại hoa kỳ lạ, nhưng chưa bao giờ thấy loại hoa này! U Bình giật mình: “Chả lẽ đây là hoa A Tu la?” nhưng chợt thấy thiếu nữ ấy cúi đầu, tóc tai rối bời, run lên bần bật, từng cánh hoa rơi lả tả xuống đất, tựa như nàng ta không chịu nổi cơn lạnh. Giang Nam đứng thộn mặt ra, lạc giọng kêu lên: “Chính là nàng, người đã thổi Hồ Ca!” Trần Thiên Vũ kêu “Ồ” một tiếng, U Bình vội vàng chạy đến, lấy ra một viên Dương hòa hoàn có tác dụng chống lại khí lạnh, dịu dàng nói: “Đa tạ cô nương đã giúp chúng tôi đánh lui kẻ địch.” Lúc này U Bình rất cảm kích, đang định vạch mạng che mặt giúp nàng uống thuốc. Nàng thiếu nữ chợt phóng vọt người dậy, phát ra tiếng cười quái dị, còn U Bình thì kêu thảm một tiếng, ngã ngửa xuống đất, trên ngực cắm một mũi tên ngắn đen bóng, đuôi tên vẫn còn rung bần bật!  Trong khoảnh khắc ấy Trần Thiên Vũ kinh hoảng đến ngây người ra, chỉ nghe nàng thiếu nữ cười rú lên: “Thứ ta không lấy được cũng mãi mãi chẳng giữ được!” Trần Thiên Vũ phóng vọt người lên chụp vào vai của thiếu nữ ấy, gằn giọng quát: “Ngươi... ngươi là ai? Tại sao hạ độc thủ như thế?” Sau cuộc ác chiến, chàng lại hít phải mùi thơm của hoa A Tu la, lúc này vốn đã đuối sức. Chàng phóng vọt lên nhảy bổ tới khiến cho vết thương trên vai vỡ ra, đứng không vững chân cho nên kéo thiếu nữ ấy cùng ngã xuống đất. Thiếu nữ chợt kéo mạng che mặt xuống, đôi mắt long lanh tựa khóc mà không phải khóc, như cười mà cũng chẳng phải cười, nàng nhìn Trần Thiên Vũ sững sờ, Trần Thiên Vũ kêu lên lạc giọng như gặp phải ma quỷ: “Ngươi... ngươi là Tang Bích Y?” Thiếu nữ ấy đột nhiên cười rú lên, rồi nàng nói tiếp: “Đúng thế, ngươi đã nhận ra ta, vị hôn thê của ngươi đã đến tìm ngươi, chúng ta cùng đi thôi!” rồi đột nhiên nàng rút ra thêm một mũi tên ngắn, đâm vào cổ họng Trần Thiên Vũ, Giang Nam kêu hoảng. Trần Thiên Vũ mặt xám ngoét như xác chết, lòng thầm than: “Oan nghiệt, oan nghiệp” rồi chàng nhắm mắt chờ chết, chợt nghe soạt một tiếng, Trần Thiên Vũ mở mắt nhìn lại thì ra mũi tên ấy không phải đâm vào cổ họng của mình mà là đâm vào ngực của nàng thiếu nữ. Chỉ nghe nàng thiếu nữ thở dài, thều thào nói: “Thiên Vũ, ngươi hay lắ! Ngươi không chịu đi cùng ta có phải không? Dẫu sao ta cũng đã giết ả, một mình ngươi sống trên đời sẽ rất đau lòng. Thiên Vũ, ngươi hãy để ta cột lại dây giày cho ngươi.” Giọng nói càng lúc càng nhỏ, rồi người cũng đổ ập xuống dưới gối của Trần Thiên Vũ, hai tay thì nắm giày của chàng. Nàng thiếu nữ che mặt chính là con gái của Thổ Ti Tát Ca. khi Trần Định Cơ làm Tuyên úy sứ ở Tát Ca, bị Thổ Ti của Tát Ca uy hiếp, đành phải hứa cưới con gái của Thổ Ti cho con trai của mình. Lâu nay Trần Thiên Vũ không hề thừa nhận hôn sự này, chàng cũng đã chạy trốn. Sau này Thổ Ti đã bị một thiếu nữ người Tạng là Chi Na đâm chết, thế là hôn sự cũng ta vỡ. Không ngờ sau khi Trần Thiên Vũ trở về Giang Nam, Tang Bích Y đã vượt đường xa muôn dặm tìm chàng. Nàng vốn muốn đâm chết Trần Thiên Vũ, nhưng khi xuống tay thì đột nhiên không nỡ lòng, cho nên trở ngược mũi tên đâm vào ngực mình. Trần Thiên Vũ đẩy nhẹ Tang Bích Y ra, thì ra dây giày của mình đã bị xổ, té ra theo phong tục của Tây Tạng, thiếu nữ buộc dây giày cho một người đàn ông nào đó thì có nghĩa là trái tim của nàng đã thuộc về người ấy, trước đây Tang Bích Y đã từng buộc dây giày một lần cho Trần Thiên Vũ, lúc đó Trần Thiên Vũ không biết phong tục này. Tang Bích Y vẫn nhớ mãi hôn ước, cho đến chết vẫn muốn làm vợ của chàng, vì thế trước khi ra đi nàng vẫn muốn buộc dây giày cho Trần Thiên Vũ.
Trần Thiên Vũ rút chân ra, đưa tay sờ thì thấy Tang Bích Y đã đứt hơi. Trong không khí thê thảm ấy, máu chàng tựa như đông lại, chàng vội vàng chạy đến bên cạnh U Bình, nhưng U Bình đã nhắm tịt hai mắt, mặt không hề có sắc máu. Mảnh áo trên vai nàng đã bị Tang Bích Y xé rách, cả bờ vai của nàng bị bầm đen, chàng thấy mũi tên độc cắm vào ngực của U Bình, nghĩ bụng chắc nàng không thoát khỏi cái chết. Trần Thiên Vũ đứng ngẩn người ra, rút soạt thanh kiếm, trở mũi kiếm lại toan đâm vào yết hầu của mình. Trải qua biến cố lần này, chàng quả thật không muốn sống một mình trên đời để đau lòng nữa.  Giang Nam đang đứng bên cạnh, thấy thế thì tung ra một cước, đá bay thanh kiếm của Trần Thiên Vũ, kêu lên: “Công tử, xem kìa, đầu của thiếu phu nhân còn cử động được!” Trần Thiên Vũ nhìn lại, mái tóc của U Bình đang phất phơ theo gió, thần trí của nàng hơi tỉnh hơn, chàng nghĩ thầm: “Đúng thế, mình phải cố hết sức.” Vì thế mới kêu Giang Nam vào trong lấy cao đơn hoàn tán giải độc ra, chàng không dám rút mũi tên độc, chỉ nắm chặt hai tay của U Bình, cảm thấy mạch đập của nàng mỏng manh như sợi tơ, tuy hơi yếu nhưng vẫn chưa đoạn hoàn toàn.
Một hồi sau, Giang Nam đã đem ra tất cả các loại thuốc giải độc, Trần Thiên Vũ chọn hai loại thuốc mà U Bình đã lấy về từ băng cung, rồi vạch áo bôi vào vết thương, sau đó lại nhẹ nhàng xoa bóp, độc khí đã tản mát, qua một hồi lâu sau, U Bình hơi hé mắt, miệng mấp máy, Trần Thiên Vũ kề tai vào miệng nàng. Chỉ nghe nàng khẽ nói: “Đừng làm khó nàng ta!” Ý của U Bình là muốn nói Tang Bích Y. Trần Thiên Vũ nhói lòng, nói: “Nàng đã chết!” U Bình nói: “Chàng đừng căm hận nàng, cứ chôn nàng theo lẽ phu thê. Nếu muội chết, huynh cứ chôn muội bên cạnh nàng!” Trần Thiên Vũ thổn thức nói: “Không, muội không thể chết được.” Lúc này bên trong nhà có tiếng người ồn ào, Trần Thiên Vũ lòng rối bời, hỏi Giang Nam: “Lão gia thế nào rồi?” Giang Nam nói: “Lão gia hoảng quá đến nỗi ngã bệnh.” Trần Thiên Vũ bế U Bình vào phòng rồi vội vàng đến thăm cha. May mà Trần Định Cơ vì già cả yếu ớt, hoảng quá thành bệnh chứ không hề gì.
Suốt mấy ngày qua Trần Thiên Vũ ngồi bên giường chăm sóc cho vợ, không biết cây tên của Tang Bích Y đã tẩm loại độc gì mà tuy có linh dược của băng cung cũng chỉ có thể ngăn thương thế không mở rộng mà thôi. May mà được Đường Kinh Thiên chỉ điểm tâm pháp nội công chính tông, cho nên mỗi ngày chàng đều đùng nội công thượng thừa phối hợp với linh dược của băng cung trị thương cho U Bình. Lại cũng nhờ U Bình có căn cơ võ công vững chắc, kéo dài được đến ngày thứ tư thì nàng mới có thể ăn uống được một chút, mạch đập cũng hơi mạnh hơn nhưng vẫn còn trong tình trạng nguy hiểm. Trần Thiên Vũ vừa chăm sóc cho cha, vừa trông coi vợ, quả thật rất mệt mỏi.
Hôm nay U Bình đã hơi tỉnh táo, thấy Trần Thiên Vũ sắc mặt tiều tụy thì nàng buồn bã thở dài: “Muội đã liên lụy huynh ra nông nỗi này, chi bằng cứ để muội chết cho xong.” Linh dược của băng cung cũng không thể giải độc, chắc là không có thầy thuốc nào trị nổi. Mấy năm nay muội được hưởng phước, dẫu cho có chết sớm cũng nhắm mắt.” Trần Thiên Vũ nói: “Đừng nghĩ càn, muội không thể chết được!” chàng tuy nói cứng như thế nhưng đó chỉ là an ủi cho U Bình, thực ra trong lòng chàng cũng chẳng có cách gì hay. U Bình chợt nói: “Huynh đã xây mộ cho Tang Bích Y chưa?”
Trần Thiên Vũ nói: “Mấy ngày qua huynh đã bảo Giang Nam đốc công xây xong.” U Bình nói: “Nàng tuy ra tay ác độc nhưng cũng vì si tình. Huynh đừng đối xử tệ với nàng.” Trần Thiên Vũ nói: “Huynh đã chôn cất nàng theo lời muội.” U Bình nói: “Tốt lắm, sau này nếu gặp nàng ở suối vàng, muội cũng yên lòng.” Trần Thiên Vũ nói: “Muội hãy vì huynh, đừng nói những lời đau lòng ấy được không?” có linh dược của băng cung, lại thêm công lực của bản thân muội đủ cho trong nhất thời không thể khỏe hẳn, nhưng vẫn có thể giữ được lánh mạng.” U Bình cười thảm nói: “Hàng ngày huynh phải trông coi một người sắp chết như thế này, huynh không phiền muộn nhưng muội thì rất đau đớn!” nàng ngừng một lát rồi lại nói: “Có một chuyện muội vẫn chưa cho huynh biết, năm xưa Đường Kinh Thiên lần đầu tiên đến băng cung, đã viết đôi câu đối cho muội: “U cốc hoang sơn, nguyệt sắc tẩy thanh nhan sắc. Bình ngạnh liên diệp, vũ thanh tích toái hà thanh” nghĩ lại muội quả thực chỉ hợp sống ở nơi u cốc hoang sơn, khi theo huynh về nơi trần thế phồn hoa này, trái lại đã khiến huynh đau lòng vì muội suốt một đời!” Trần Thiên Vũ đang rối bời ruột gan, chàng chợt sực tỉnh, mừng rỡ kêu lớn: “Đúng rồi, sao huynh lại không nhớ ra chứ? Giang Nam, Giang Nam!”
U Bình nói: “Huynh đã nhớ được gì?” Trần Thiên Vũ nói: “Đường Kinh Thiên, Thiên Sơn tuyết liên? May mà muội nhắc đến ông ta. Thiên Sơn tuyết liên có thể giải bách độc, còn lo gì?” U Bình cười khổ sở: “Thiên Sơn cách đây bao xa?” Trần Thiên Vũ nói: “Nếu dùng khoái mã đi và về nhiều nhất không quá nửa năm. Trong thời gian này huynh sẽ điều trị cho muội, có lẽ bệnh tình sẽ không chuyển biến xấu!” lúc này Giang Nam đã vội vàng chạy vào, đứng cúi đầu chờ trước giường bệnh, vẻ mặt rất lo lắng. Trần Thiên Vũ nói: “Giang Nam, tôi muốn nhờ ngươi hai chuyện.” Giang Nam kêu ối chao rồi nói: “Sao công tử lại nói thế? Công tử đối với tôi rất tốt, có chuyện gì thì cứ sai khiến, dù nước sôi lửa bỏng Giang Nam cũng không nhíu mày!” Trần Thiên Vũ nói: “Làm phiền ngươi hãy đến băng cung một chuyến, xin Đường đại hiệp một đóa Thiên Sơn tuyết liên.” Vì lần này Giang Nam đã dắt kẻ địch đến, Trần Thiên Vũ tuy không trách, nhưng rất áy náy trong lòng, lúc nào cũng không yên, nay nghe Trần Thiên Vũ bảo đi lấy Thiên Sơn tuyết liên, chàng nghĩ chắc đó là một loại thuốc giải độc, không khỏi cả mừng nói: “Công tử hãy yên tâm, Giang Nam chắc chắn sẽ làm được.” Trần Thiên Vũ nói: “Đường sá xa xôi, người phải cẩn thận mới được.”
Giang Nam nói: “Đương nhiên, nếu trên đường gặp kẻ cường địch, nếu tránh được thì tránh, không tránh được tôi sẽ liều mạng với bọn chúng.” Trần Thiên Vũ nói: “Ta không lo diều này. Tuy trên đường nhiều cường đạo, nhưng ngươi chẳng mang theo vật gì đáng tiền, vả lại võ công của ngươi đã có tiến bộ, đủ ứng phó với bọn mã tặc thông thường. Điều quan trọng nhất là đừng gây sự.” Giang Nam nói: “Được, tôi sẽ giả vờ chẳng biết võ công, dù có bị đánh tôi cũng không trả đòn.” Trần Thiên Vũ nhíu mày: “Đâu có ai vô duyên vô cớ đánh mắng ngươi. Ngươi không gây chuyện đã là tốt lắm.” Ngừng một lát rồi trịnh trọng nói: “Ta còn nhờ ngươi một chuyện nữa.”
Giang Nam nói: “Công tử cứ căn dặn, Giang Nam sẽ nghe theo.” Trần Thiên Vũ nói: “Ngươi phải nhớ kỹ hai câu nói này!” Giang Nam vội vàng hỏi: “Câu nói gì?” Trần Thiên Vũ nói: “Đành rằng phải nói chuyện với người khác nhưng không thể vạch áo cho người xem lưng. Trên giang hồ hạng tiểu nhân gian xảo nào cũng có, ngươi phải sửa tật lắm lời.” Giang Nam đỏ mặt, ngượng ngùng nói: “Khi đi đường người khác hỏi tôi hai câu, tôi sẽ đáp một câu. Người ta hỏi mươi câu tôi sẽ đáp bốn câu. Nếu y có lai lịch bất minh, tôi sẽ giả vờ câm điếc. Quyết không dám làm hỏng chuyện lớn của
công tử.” U Bình nghe chàng nói một hồi thì bật cười, Giang Nam nói: “Bây giờ còn đang ở nhà, tôi có nói thêm vài câu cũng chẳng hề chi. Thiếu phu nhân hãy yên tâm, khi đi đường tôi sẽ kín như bưng!” Trần Thiên Vũ mỉm cười nói: “Ta rất cảm kích tấm lòng trung thành của ngươi đối với ta. Trước đây ngươi là thư đồng của ta, từ rày về sau đừng gọi ta là công tử nữa.” Giang Nam nói: “Đợi sau khi lấy được Thiên Sơn tuyết liên thì đổi cách xưng hô cũng được. Công tử có còn căn dặn gì nữa không?” Trần Thiên Vũ nói: “Chỉ có một việc ngươi có thể dò hỏi ở trên đường đó là tin tức của Kim Thế Di.” Nói rồi lấy ra hai trăm lượng bạc đưa cho chàng làm lộ phí, lại sai người dắt con ngựa tốt giống Đại Uyển ra cho Giang Nam. Trần Thiên Vũ đưa Giang Nam ra khỏi thôn, dặn dò một hồi rồi mới vẫy tay cáo biệt.
Trên suốt quãng đường Giang Nam nhớ kỹ lời đồn của Trần Thiên Vũ, quả nhiên không dám nói nhiều. Chàng phóng ngựa rất nhanh, mỗi ngày sáng sớm đã lên đường, đến trời tối thì tìm nơi tá túc, đến ngày thứ năm thì đã đi hơn một ngàn dặm đường, chàng nhủ thầm: “Đi nhanh như thế này không cần nửa năm, nhiều nhất bốn tháng là
có thể quay về.” Nào ngờ đến ngày thứ sáu thì gặp phải một chuyện bất ngờ, suýt nữa khiến chàng mất mạng.
Đó chính là: “Giang hồ sóng gió xưa nay lắm, vượt qua đâu dễ đã bao người?”
Muốn biết tiếp đó thế nào, mời xem hồi sau sẽ rõ.


Hồi Thứ Ba Mươi
Phóng hoa chặn địch lộ kỳ tích
Ngắt lá bẻ cành trổ kỳ năng.

Ngọ pháo đã nổ, vẫn chưa thấy tăm hơi Mạnh Thần Thông, mọi người đều lấy làm ngạc nhiên, hai bên đã hẹn chiến kỳ, làm sao có thể trễ nải? Dù Mạnh Thần Thông chỉ trễ trong khoảnh khắc cũng đã thất tín với võ lâm, không cần tỉ võ thì cũng có thể coi nhảy đã thua. Huống chi lúc này phía đối phương vẫn chưa có ai tới.
Lôi Chấn Tử cười lạnh: “Thần thông quảng đại cái gì? Chỉ là đồ cọp giấy, hừ, đúng là chuyện buồn cười chưa bao giờ xảy ra trong võ lâm!” Nói chưa dứt lời thì tiếng ngọ pháo thứ hai đã vang lên, lối vào khu mộ vẫn im ắng, chẳng hề thấy bóng tại Tào Cẩm Nhi mừng đến nỗi bật cười, vái dài thủ lĩnh của các phát, nói: “Nhờ oai thần của các vị mà Mạnh lão tặc đã rút lui!” Tào Cẩm Nhi đang định hỏi Thống Thiền thượng nhân có cần lập tức xuất phát chia nhau đi bắt Mạnh Thần Thông hay không, ngay lúc này chuyện không ngờ đã xảy ra! Đột nhiên chỉ nghe một tràng cười vang vọng át cả tiếng pháo! Mọi người nhìn về phía hòn núi đối diện, trên vách núi đột nhiên bật ra hai cánh cửa đá, Mạnh Thần Thông từ trên phóng xuống, nhìn lại bóng mặt trời thì đúng là giờ ngọ chẳng hề sai! Rồi một tốp người theo Mạnh Thần Thông nhảy xuống từ độ cao hai ba mươi trượng.
Mạnh Thần Thông có bản lĩnh như thế không có gì là lạ, nhưng những người đến cùng y thì cứ phóng trên không như đi trên đất bằng, tựa như một toán thần binh từ trên trời giáng xuống, đệ tử các phái đều hỗ mồm trợn mắn! Té ra Mạnh Thần Thông cố ý lòe thiên hạ, nửa năm trước đã đục một sơn động ở hòn núi đối diện khu mộ rồi lấy đá tảng che lại, người của y đã sớm nấp trong động, đến lúc này thì đột nhiên mở cửa động phóng ra khiến toàn trường đều kinh hãi.
Bọn Đường Kinh Thiên, Dực Trọng Mâu nhìn qua thì nhận ra Tán Mật đại sư, A La tôn giả, Kim Nhật, Thiên Long đảo chủ, Khảm Ly kiếm Đồ Chiêu Minh, phó chỉ huy ngự lâm quân Bạch Lương Ký, thống lĩnh ngự lâm quân Tần Đại, Cẩn Thuần, ngoài ra có những người mà họ không nhận ra. 
Tào Cẩm Nhi hét lên chạy tới, Mạnh Thần Thông cười: “Thế nào, chưa nói xong mà đã động thủ ư?” Tào Cẩm Nhi nổi giận nói: “Hôm nay là ngày tỉ võ quang minh chính đại, ngươi giữ hai đứa cháu của ta là muốn uy hiếp ta ư? Hừ, chỉ e trước mặt tôn sư các phái ngươi không thể nào giở thủ đoạn bỉ ổi được!” Té ra bà ta đã phát hiện hai đứa cháu của mình trong đám người của Mạnh Thần Thông. Tào Cẩm Nhi chạy về phía hai đứa cháu của mình, đột nhiên có một đạo nhân tóc dài phất cây phất trần cuộn cây gậy đầu rồng của Tào Cẩm Nhi, Tào Cẩm Nhi không thể dời chân nửa bước.
Mạnh Thần Thông lạnh lùng nói: “Tào Cẩm Nhi, ngươi vẫn chưa hỏi cho rõ ràng, hãy nghe cháu của ngươi nói gì đã!” Kim Quang đại sư khẽ hừ một tiếng, quay sang Thống Thiền thượng nhân nói: “Đó chẳng phải là Lăng Tiêu Tử của Đại Tuyết Sơn sao? Sao ông ta lại cam lòng theo tên ma đầu này?” Lăng Tiêu Tử xuất thân từ phái Toàn Chân, là đệ tử đời thứ bảy của Khứu Xứ Cơ, vai vế trong võ lâm rất cao, năm xưa cũng có qua lại với thủ lĩnh của các phái lớn, sau đó đột nhiên biến mất nghe nói là ẩn cư ở Đại Tuyết Sơn khổ luyện Thái thanh huyền công, mấy mươi năm qua không hề lộ mặt, không ngờ nay lại xuất hiện cùng với Mạnh Thần Thông. 
Lôi Chấn Tử thấy Tào Cẩm Nhi bị chặn lại thì cả giận nói: “Mạnh Thần Thông, có phải ngươi tỉ võ theo quy củ võ lâm hay không?” Rồi tuốt kiếm xông lên.
Ngay lúc này, Triệu Anh Hoa chợt mở miệng nói: “Bà bà, cháu đã bái Mạnh Thần Thông làm sư phụ, Mạnh Thần Thông võ công tuyệt thế, bà bà không thể địch nổi ông ta!” Mạnh Thần Thông cười ha hả: “Tào Cẩm Nhi, ngươi có nghe thấy hay không? Có phải ta ép hắn không?” Té ra sau khi bắt hai đứa cháu của Tào Cẩm Nhi, Mạnh Thần Thông đã biểu diễn bản lĩnh của mình trước mặt chúng, khiến chúng phục sát đất. Chúng chẳng qua chỉ là những thiếu niên mười lăm mười sáu tuổi bình thường thì bị Tào Cẩm Nhi quản giáo quá nghiêm, nay Mạnh Thần Thông không đánh không mắng chúng, lại còn dạy võ công cho chúng, bọn chúng tuổi trẻ chưa hiểu biết, trái lại thấy theo Mạnh Thần Thông thì càng tự do tự tại hơn. Lần này Mạnh Thần Thông dắt bọn chúng đến chính là có ý hạ uy phong của Tào Cẩm Nhi khiến Tào Cẩm Nhi mất mặt không cần giao thủ cũng đã thắng. Tào Cẩm Nhi tức đến nỗi thất khiếu bốc khói nhưng cũng chẳng còn cách nào. Lôi Chấn Tử cũng ngượng ngùng, tiu nghỉu đút kiếm vào bao, lui trở lại. 
Thống Thiền thượng nhân nói: “Chuyện này lát nữa hãy tính, ý Mạnh tiên sinh thế nào?” Mạnh Thần Thông cười ha hả: “Rốt cuộc chủ trì chùa Thiếu Lâm mới là người hiểu việc. Lăng Tiêu đạo huynh, hãy nhường bà ta!” Lăng Tiêu Tử thu phất trần lại, áp lực trên cây gậy của Tào Cẩm Nhi tiêu biến, bà ta bất đồ loạng loạng choạng thối lui mấy bước.
Tào Cẩm Nhi lui trở về bên cạnh Phùng Lâm, bà ta vẫn còn chưa hết tức, Phùng Lâm chợt cười: “Tào đại tỷ, tỷ hãy yên tâm, chúng tôi nhất định sẽ tìm cách bắt hai đứa cháu của tỷ về. Nhưng tôi muốn hỏi tỷ một câu, nếu chúng thoát khỏi ma chưởng của Mạnh Thần Thông thì sau này tỷ sẽ xử trí chúng thế nào?” Tào Cẩm Nhi ngẩn người ra, trong nhất thời không hiểu ý Phùng Lâm, chỉ lẩm bẩm: “Xử trí thế nào?
Điều này tôi vẫn chưa nghĩ tới. Tại sao phải xử trí chúng?” Phùng Lâm cố ý nghiêm mặt nói: “Mạnh Thần Thông là kẻ địch của võ lâm, hai đứa cháu của tỷ phản bội bổn phái cam tâm theo kẻ địch, tội danh không nhỏ!” Nghe câu nói này tựa như có ý bảo nếu Tào Cẩm Nhi không tiện xử trí, bà sẽ thay Tào Cẩm Nhi thanh lý môn hộ. Tào Cẩm Nhi kinh hoảng, vội vàng nói: “Bọn chúng chỉ là hai đứa trẻ, làm sao hiểu nổi việc đời? Phùng lão tiền bối giáng tội cho chúng e rằng quá nặng.” Phùng Lâm rốt cuộc chẳng quen giả vờ, bà thấy Tào Cẩm Nhi cuống lên thì bật cười: “Cháu của tỷ thì tỷ bảo tội danh quá nặng, còn Cốc Chi Hoa thì tỷ lại định tội cho người ta ngay từ trong bụng mẹ. Đó họ chẳng phải là càng nặng hơn hay sao?” Tào Cẩm Nhi thẹn đến nỗi đỏ ửng mặt, không dám tranh biện, lúc này cũng cảm thấy mình đã đối xử quá đà đối với Cốc Chi Hoa.
Thống Thiền thượng nhân bước ra giữa sân, chào Mạnh Thần Thông rồi hỏi: “Không biết các môn phái trong võ lâm vì chuyện gì mà đã đắc tội các hạ, các hạ đã giết chết tứ đại trưởng lão của Cái Bang, đánh trọng thương chưởng môn của phái Thanh Thành, lại bắt đệ tử phái Mang Sơn, ngoài ra còn cho người đến khiêu chiến với đệ tử phái Nga Mi, Thiên Sơn, Võ Đang, lão nạp xin hỏi rốt cuộc là có thù sâu hận lớn gì đến nỗi khiến cho các hạ nặng tay đến thế?” Mạnh Thần Thông cả cười:
“Lão thiền sư nói sai rồi!” Thống Thiền thượng nhân lộ vẻ không vui: “Sai ở chỗ nào, mong thí chủ chỉ rõ?” Mạnh Thần Thông ngẩng đầu nhìn trời, lạnh lùng nói: “Tôi làm như thế chính là coi trọng các người! Nếu là hạng tầm thường, lão Mạnh này không cần phải ra tay!” Thống Thiền thượng nhân dù có nhẫn nại bao nhiêu cũng không khỏi nổi giận: “Nói như thế các hạ có ý chọc giận nhân sĩ võ lâm, quyết lòng đối nghịch với các đại môn phái?” Mạnh Thần Thông cười ha hả: “Lão thiền sư chỉ nói đúng một nửa. Nếu tôi không dùng thủ đoạn như thế làm sao có thể mời được đại giá của các vị đến đây? Nhưng tôi cũng không phải quyết lòng đối nghịch với các vị, chỉ là muốn mượn cơ hội này để đôi bên ấn chứng một phen. Các môn phái lớn các người xưa nay tự cho là võ học chính tông, tưởng rằng đạo võ học của thiên hạ đều nằm trong phái các người?” Thống Thiền thượng nhân nói: “Lão nạp cho rằng phái Thiếu Lâm không tự kiêu tự mãn như thí chủ nghĩ!” Mạnh Thần Thông cười nói: “Thiền sư, ông cũng không thể đại diện cho cả võ lâm? Thực ra nói đi cũng phải nói lại, nếu quả thực có người có thể dung hợp sở trường của các phái, tham thấu được lý lẽ huyền diệu vô thượng của võ học, điều đó cũng đáng cho y tự hào tự kiêu, nếu lão Mạnh này gặp một người như thế nhất định sẽ cam lòng bái y làm thầy!” Thống Thiền thượng nhân điềm nhiên nói: “Thật ra trên đời này chẳng có nhân vật như thế, trừ phi người các hạ nói đến chính là bản thân các hạ!” Ông ta vừa nói ra câu ấy, Mạnh Thần Thông đã cười rộ lên. Thủ lĩnh các phái thấy Mạnh Thần Thông ngông cuồng như thế thì đều nổi giận, bọn Lôi Chấn Tử, Bản Không đại sư, Tân Ẩn Nông, Ô Thiên Lang đều bước tới phía trước, chỉ đợi Thống Thiền thượng nhân ra lệnh thì sẽ quyết một trận thư hùng với Mạnh Thần Thông.
Thống Thiền thượng nhân đã ngầm nổi giận nhưng cũng bình tĩnh nói: “Mạnh tiên sinh, e rằng chuyện hôm nay không thể cười là xong, vậy giải quyết thế nào, mong Mạnh tiên sinh nói rõ.” Mạnh Thần Thông lớn giọng nói: “Nay những người đi theo ta đều là cao nhân dị sĩ đứng ngoài các đại môn phái, họ sớm đã có lòng ngưỡng mộ võ công của các vị, nhân cơ hội này cũng muốn đôi bên ấn chứng. Nếu các vị có thể thắng được họ, tôi lại sẽ thay phiên lãnh giáo các vị. Chỉ cần một vị thắng được ta một chiêu nửa thức, không cần các vị phải xử trí, Mạnh Thần Thông này sẽ tự kết liễu! Nếu may mắn mà Mạnh Thần Thông này thắng được các vị, Mạnh mỗ quyết không lấy mạng các vị, chỉ cần các vị đưa đệ tử chưởng môn kế nhiệm của quý phái đến bái ta làm thầy là được. Đó không phải là ta thích làm thầy người khác mà là muốn mượn cơ hội này để hợp nhất võ công các phái, tin rằng điều đó sẽ giúp ích cho việc phát dương quang đại võ học. Mạnh mỗ chỉ có một ý nguyện nhỏ nhoi như thế mà thôi?” Khẩu khí này cuồng ngạo đến cực điểm, người trong chính phái lúc này mới biết Mạnh Thần Thông muốn ép họ cúi đầu! Thủ lĩnh của các phái đều tức giận đến nỗi thất khiếu bốc khói? Nhưng lại không khỏi lo âu, thầm nhủ: “Nếu Mạnh Thần Thông không chắc ăn như thế, y làm sao dám lớn giọng, khiêu chiến với tông sư của tất cả các phái? Chẳng may y thắng thì sau này chưởng môn kế nhiệm của các phái đều trở thành đệ tử của y, đó chẳng phải là mối sỉ nhục lớn nhất trong võ lâm hay sao!” Thống Thiền thượng nhân tay lần tràng hạt, đáp: “Mạnh tiên sinh có ý như thế, lão nạp rất bội phục. Nếu Mạnh tiên sinh quả nhiên có bản lĩnh chí cao vô thượng, lão nạp đại diện cho các đại môn phái xin tuân theo. Mạnh tiên sinh còn nói gì nữa không?” Mạnh Thần Thông nói: “Còn có một chuyện nhỏ nữa, phái Mang Sơn vốn là do Diệt Pháp hòa thượng đảm nhận chức chưởng môn, đáng tiếc y bất hạnh qua đời.
Địa Pháp hòa thượng là bằng hữu của ta, cho nên ta rất coi trọng phái Mang Sơn. Nếu ta may mắn thắng được các vị, phái Mang Sơn không cần phải đưa đệ tử đến bái ta làm thầy, ta chỉ muốn lập đại đệ tử của Liễu ân hòa thượng là Cẩn Thuần làm chưởng môn.” Tào Cẩm Nhi tức đến nỗi run bần bật, theo lời Mạnh Thần Thông nếu lần này võ lâm chính phái mà bại, Tào Cẩm Nhi lập tức bị phế truất, phái Mang Sơn từ rày về sau do một thống lĩnh ngự lâm quân nắm giữ. Trong khoảng sát na ấy Tào Cẩm Nhi lửa giận bốc cao, suýt nữa đã lao lên liều mạng với Mạnh Thần Thông. Dực Trọng Mâu thấy thần sắc của bà không ổn thì vội vàng nắm cây gậy đầu rồng lại. Dực Trọng Mâu khẽ nói: “Hôm nay không chỉ là chuyện của một mình phái Mang Sơn, có các đại tông sư ở đây, tên lão tặc cũng khó làm dữ, tạm thời cứ mặc cho y buông lời cuồng ngạo, cần gì phải tính toán với y.” Tào Cẩm Nhi nghĩ, nếu lần này các đại môn phái không may thua Mạnh Thần Thông, các phái đều chịu nhục, dù phái Mang Sơn có bị nhục hơn chẳng qua cũng giống như chạy năm mươi bước so với chạy một trăm bước mà thôi. Chả lẽ đến lúc đó mình còn mặt mũi làm chưởng môn? Rồi nghĩ lại mình thật sự cũng chẳng phải là đối thủ của Mạnh Thần Thông, chỉ đành nén cơn giận chẳng nói lời nào.
Mạnh Thần Thông cười ha hả: “Nếu mọi người đã không phản đối những lời của ta, vậy thì bắt đầu đi thôi?” Nói xong thì chậm rãi giở tay phải, hai mắt nhìn thẳng vào Thống Thiền thượng nhân. 
Theo quy củ võ lâm, sau khi đôi bên đã đồng ý điều kiện tỉ võ thì nhân vật đứng đầu hai bên sẽ vỗ chưởng lập lời thề. Đó vốn chỉ là một nghi thức, nhưng trong tình huống này ai cũng biết Mạnh Thần Thông có thể mượn cơ hội này để hạ Thống Thiền thượng nhân. Mấy trăm cặp mắt đều nhìn vào hai người.
Chỉ nghe bốp một tiếng, hai bên đã vỗ chưởng, Thống Thiền thượng nhân vẫn đứng vững, còn Mạnh Thần Thông thì hơi lắc lư thân trên, y cười ha hả nói: “Lão thiền sư, sau khi bọn họ đã đọ chiêu, chúng ta lại sẽ gặp nhau” rồi lui trở về chỗ cũ.
Khi vỗ chưởng hình như Thống Thiền thượng nhân hơi chiếm thượng phong, nhân viên thủ lĩnh các phái đều như cất được gánh nặng trong lòng, Lôi Chấn Tử cười lạnh nói: “Xem ra sự thần thông của Mạnh lão quái chẳng qua chỉ như thế...” Nói chưa dứt lời chỉ thấy Thống Thiền thượng nhân chậm rãi quay về sắc mặt cực kỳ nặng nề. Bản Không đại sư thất kinh đứng dậy, trưởng lão của phái Côn Luân là Khâu Vô Xa tinh thông y lý, kéo ông ta lại nói: “Thượng nhân không cần lo, lão thiền sư chỉ bị nhiễm một chút khí âm tà chứ chẳng hề gì.” Bản Không đại sư là cao thủ thuộc hàng thứ hai của Thiếu Lâm, liếc nhìn Thống Thiền thượng nhân thì biết Khâu Vô Xa tuy nói rất thản nhiên, mọi người cũng mong Thống Thiền thượng nhân vô sự, nhưng theo tình hình mà thấy, Thống Thiền thượng nhân cũng bị thương nhẹ, chứ không phải chiếm được thượng phong. Nhưng mọi người cũng ngại không dám hỏi ông ta.
Té ra lúc nãy khi Thống Thiền thượng nhân và Mạnh Thần Thông vỗ tay lập thệ thì hai bên đã ngầm tỉ thí một chiêu, Mạnh Thần Thông sử đụng Tu la âm sát côngđến tầng thử chín, Thống Thiền thượng nhân đã dùng tuyệt học của Đạt Ma sư tổ là Kim cương bất hoại thân pháp để đối phó. Kim cương bất hoại thân pháp vốn là bách độc bất xâm, lại thêm Thống Thiền thượng nhân có nội công mấy mươi năm, bởi vậy Mạnh Thần Thông mới bị lực phản chấn của ông ta làm cho lắc lư thân trên.
Nhưng dù cho Thống Thiền thượng nhân đã dùng thân pháp Kim cương bất hoại tiếp một chưởng của Mạnh Thần Thông nhưng vẫn cảm thấy khí lạnh xông lên đầu, cả máu hầu như cũng ngưng kết lại.
May mà ông ta có công lực nội gia vô thượng của Phật môn, chỉ vận khí ba vòng thì đã trừ được âm độc, người ngoài nhìn tựa như ông ta đã chiếm được thượng phong nhưng ông ta hiểu rất rõ, nếu thực sự tỉ thí với Mạnh Thần Thông, y làm sao để cho ông có cơ hội vận công? Với công lực của mình, ông ta tin rằng có thể đỡ được ba đòn Tu la âm sát công của Mạnh Thần Thông, nhưng đến đòn thứ tư thì không nắm chắc.
Thống Thiền thượng nhân và Mạnh Thần Thông trở về chỗ, cuộc tỉ thí bắt đầu, phía Mạnh Thần Thông có một tăng nhân Ấn Độ bước phải, nói thứ tiếng Hán nghe rất cứng: “Từ lâu đã nghe võ công của phái Thiếu Lâm quý quốc vốn là của Đạt Ma sư tổ nước tôi, lưu truyền đến nay đã hơn một ngàn năm, chắc là có nhiều biến hóa, tiểu tăng không ngại đường xa đến đây là mong được thấy công phu của các vị đại sư chùa Thiếu Lâm.” Đường Kinh Thiên vừa nhìn thì nhận ra đó chính là A La tôn giả, kẻ đã từng giao thủ với chàng ở Băng cung, thầm nhủ: “E rằng Bản Không đại sư mới có thể đối phó nổi với kẻ này.” Nói chưa dứt thì chỉ nghe Thống Thiền thượng nhân chỉ định Đại Bi thiền sư trong Thập bát La Hán ra nghênh chiến. Thống Thiền thượng nhân và Bản Không thượng nhân ngang hàng với nhau, tiếng tăm lừng lẫy trong võ lâm, nếu tùy tiện giao chiến với một thủ hạ của Mạnh Thần Thông thì thắng cũng chẳng vinh quang gì, không thắng thì bị cười chê bởi vậy sau khi Thống Thiền thượng nhân suy nghĩ thì mới quyết định sai Đại Bi thiền sư. 
Đại Bi thiền sư là người có nội công tinh thâm trong Thập bát La Hán, mọi người thấy ông ta bước ra đánh trước trận thứ nhất thì đều yên tâm. Chỉ có Đường Kinh Thiên là không dám lạc quan, chàng chỉ hy vọng ông ta nhờ vào nội công tinh thâm để giữ không bại.
Hai người ra mắt nhau bằng lễ Phật môn rồi động thủ ngay sau đó. Đại Bi thiền sư sử dụng tuyệt kỷ La Hán quyền của chùa Thiếu Lâm. Mỗi quyền đánh ra đều có tiếng gió vù vù, A La tôn giả tiếp vài chiêu thì cười rằng: “Quả nhiên là cùng một nguồn!” Rồi cũng dùng trường quyền đối phó, mọi người nhìn thì thấy quyền pháp của hai bên đại đồng mà tiểu dị, mỗi bên đều có chỗ hay riêng, nhưng đường quyền của Đại Bi thiền sư tựa như trầm trọng có lực hơn đối phương.
Hai người lúc hợp lúc phân, càng đánh càng nhanh, La Hán quyền đã truyền hơn ngàn năm, tuy không phải ai trong phái Thiếu Lâm cũng biết nhưng đây là bộ quyền quen thuộc, có điều hai người này sử dụng thì thần oai lẫm lẫm, chẳng hề giống với người khác, mỗi quyền đánh ra đều có oai lực vô cùng! Người ngoài phái Thiếu Lâm đều nghĩ La Hán quyền mà mình thấy trước kia chẳng là gì so với La Hán quyền lần này; đệ tử phái Thiếu Lâm thì càng ngẩn người ra, cảm thấy quyền thuật của đối phương có chỗ đáng học hỏi.
Trong lúc kịch chiến Đại Bi thiền sư dùng một chiêu Hoàng oanh lạc giá, chưởng trái đánh một vòng, chặn quyền của đối phương lại; chưởng phải đâm ra từ dưới chỏ trái xỉa thẳng vào bên sườn của đối phương; trụ trì đời thứ ba mươi ba của chùa Thiếu Lâm là Vô Trụ thiền sư đã cải tiến La Hán ngũ hành quyền của Đạt Ma sư tổ, sáng tạo ra ba mươi ba chiêu võ công đặt tên là Sấm Thiếu Lâm ba mươi ba lộ thần quyền, đây là một chiêu vừa công vừa thủ, trong bộ Sấm Thiếu Lâm quyền này.
Trong chớp mắt chủ khách đã đổi, đường quyền của A La tôn giả bị Đại Bi thiền sư chặn lại, tường rằng còn một chiêu nữa có thể thủ thắng, Thập bát La Hán đều hớn hở, lòng thầm nhủ: “Tuy là cùng một gốc, nhưng rốt cuộc phái Thiếu Lâm của mìnhcao hơn một bậc.” Nghị chưa dứt thì chợt nghe ba tiếng bốp bốp bốp vang lên, không biết thế nào mà cánh tay của A La tôn giả tựa như cong lại, đánh ra từ một phương vị không thể nào nghĩ tới, chiêu Tam dương khai thái mà Đại Bi thiền sư đánh ra gồm có một chiêu ba thức, đều bị hụt, trái lại ông ta đã trúng cả ba quyền của đối phương. 
Đệ tử Thiếu Lâm kinh hoảng, Thống Thiền thượng nhân xoay đầu mỉm cười: “Mấy năm qua Đại Bi khổ luyện Kim cương bất hoại thân pháp, coi như cũng có chút thành tựu.” Nói chưa dứt lời chỉ thấy A La tôn giả đột nhiên bật ra như cái lò xo, xem bộ dạng hình như đầu quyền đã đấm trúng vào sắt đang nung đỏ. Té ra A La tôn giả sử dụng công phu Du già thượng thừa, cơ bắp có thể uốn dẻo tùy ý, trong lúc căng thẳng thì đột nhiên đánh ra bởi vậy Đại Bi thiền sư không đề phòng nên mới mắc mưu, những thân pháp Kim cương bất hoại của Đại Bi thiền sư đã luyện được ba phần hỏa hầu, tuy không thể đánh ngã đối phương nhưng cũng chẳng hề hấn chi.
Sau khi mỗi bên đều thi triển võ công thượng thừa, tình thế lại thay đổi, A La tôn giả biết đối phương có thần công hộ thể, có tấn công mạnh cũng chẳng được gì bởi vậy mới cẩn thận ra đòn, chân bước vào phương vị cửu cung bát quái, hình như y chỉ có thể chống đỡ chứ không có lực trả đòn, quyền thế càng lúc càng chậm lại. Đến lúc này thì anh hào các phái đều tưởng rằng Đại Bi thiền sư có thể mở cờ đắc thắng nhưng sắc mặt của Thống Thiền thượng nhân và Bản Không thượng nhân đều nặng nề, các đệ tử Thiếu Lâm cũng nhận ra tuy đối phương thối lui từng bước nhưng vẫn chưa nao núng, song dù thế nào đi nữa Đại Bi thiền sư cũng đã chiếm được thượng phong, vì vậy họ cũng không hiểu tại sao chưởng môn lại rầu rĩ đến thế?
Đại Bi thiền sư đẩy đối phương lùi từng bước, đột nhiên hóa quyền thành chưởng, sử dụng Đại lực kim cương chưởng, chưởng ảnh như núi bao trùm kẻ địch, vài đệ tử Thiếu Lâm không khỏi reo lên, nào ngờ trong khoảng sát na ấy, chợt nghe A La tôn giả gầm lớn một tiếng, tiếng gầm ấy tựa như sét đánh trên đỉnh đầu, chỉ thấy cả thân người Đại Bi thiền sư bay bổng lên, rơi xuống cách đó ba trượng, tuy có thể đứng dậy nhưng coi như đã thua. Biến hóa ấy quá bất ngờ, đệ tử các phái đều không hiểu Đại Bi thiền sư cớ gì lẽ ra thắng nhưng cuối cùng đã bại, ai nấy đều nhìn nhau ngạc nhiên, chỉ thấy Đại Bi thiền sư chắp tay nói: “Đa tạ tôn giả nương tay.” A La tôn giả cũng thi lễ: “Chùa Thiếu Lâm quả nhiên danh đồn không ngoa, La Hán thần quyền của Đạt Ma tổ sư quả thực đã được phát dương quang đại còn hơn ở Thiên Trúc!” Đệ tử các phái thấy hai người nói rất chân thành thì càng thắc mắc.
Té ra A La tôn giả quả thật không bằng Đại Bi thiền sư về mặt quyền thuật, về mặt nội công thì tương đương nhau, còn về thần công hộ thể Đại Bi thiền sư cũng nhỉnh hơn một bậc. A La tôn giả có thể thắng được đối phương là vì y biết công phu Du già, trong khoảng sát na cuối cùng, đột nhiên thi triển công phu Sư tử hống quấy rối tinh thần Đại Bi thiền sư mới phá được Kim cương bất hoại thân pháp của ông. Đệ tử Thiếu Lâm đều tiu nghỉu, đang định mời Bản Không thượng nhân ra tái đấu với A La tôn giả, chỉ thấy A La tôn giả bước theo sau lưng Đại Bi thiền sư đến trước mặt Thống Thiền thượng nhân rồi hành lễ ra mắt của Phật môn, y báo tên hiệu sư môn rồi chắp tay trước ngực, khom người nói: “Trước khi đệ tử lên đường, gia sư đã dặn đệ tử phải lên Tung Sơn ra mắt thượng nhân, không ngờ hôm nay có cơ duyên nên may mắn được gặp.” Thống Thiền thượng nhân nói: “Bần tăng cũng đã ngưỡng mộ lệnh sư Long Diệp thượng nhân từ lâu!” Long Diệp thượng nhân là đệ nhất cao tăng của Ấn Độ, khi xưa cha của Băng Xuyên thiên nữ là Quế Hoa Sinh là Nê Bách Nhĩ đã từng được ông ta dạy dỗ, nay Long Diệp thượng nhân đã thọ gần trăm tuổi, Thống Thiền thượng nhân là đệ nhất cao tăng của Trung Quốc cho nên hai người đã sớm biết tên nhau. 
A La tôn giả tiếp tục nói: “Một ngàn năm trước Đạt Ma sư tổ đã mang Dịch cân kinh và Tẩy tủy kinh đến Trung Hoa, khai sáng võ công của quý phái, hai bộ kinh điển này đã sớm thất truyền ở tệ quốc, chắc là trong phái có bậc cao minh tinh thông hai loại công phu này, không biết có thể chỉ giáo cho đệ tử mở rộng tầm mắt hay không?” Lời của y tựa như chê Đại Bi thiền sư không đủ tư cách đấu với y!
Theo quy củ tỉ thí, nếu bên thắng chưa chịu ngừng tay thì có thể tiếp tục khiêu chiến, nhưng đối phương không có quyền ép y tái chiến, chỉ có thể đưa ra yêu cầu. Đệ tử Thiếu Lâm chỉ sợ y không chịu tái chiến, thấy y đòi tiếp tục tỉ võ thì trong lòng cả mừng. Đại Bi thiền sư tuy bại nhưng không có nghĩa công phu phái Thiếu Lâm không bằng Ấn Độ, mà là thân pháp Kim cương bất hoại của Đại Bi thiền sư chỉ có ba phần hỏa hầu cho nên mới bị Sư tử hống phá, nếu Bản Không thượng nhân mà ra tay thì chắc chắn dư sức đối phó với y.
Nào ngờ Thống Thiền thượng nhân lạ  mỉm cười, điềm nhiên nói: “Võ công trong hai bộ kinh điển ấy quá bác đại tinh thâm, bần tăng cũng vẫn chưa hiểu nổi...”
A La tôn giả tưởng ông ta nói lời khách sáo định chắp tay thỉnh cầu, Thống Thiền thượng nhân đã tiếp tục nói: “Dị quốc và đồng nguyên có rất nhiều chỗ cần trau đồi với nhau hôm nay không cần phải nôn nóng, đợi sau khi đại hội kết thúc, mời đại sư dời giá đến tệ tự, bần tăng sẽ cùng nghiên cứu vôi đại sư Không cần phải nhiều lễ nữa.” Rồi hai tay đẩy ra, A La tôn giả dùng công phu kìm thân pháp lại để thử Thống Thiền thượng nhân, nào ngờ ngón tay của Thống Thiền thượng nhân chỉ chạm hờ vào người y mà A La tôn giả cảm thấy một nguồn đại lực dồn tới bất đồ phải đứng thẳng dậy, bởi vậy mới thầm phục công phu của Thống Thiền thượng nhân nên lui xuống.
Các đệ tử đều không hiểu, Thống Thiền thượng nhân quay sang mỉm cười với Bản Không thượng nhân: “Người này chỉ muốn tìm hiểu võ công trung thổ, lòng dạ không xấu, cần gì phải phân thắng bại rõ ràng với y? Nếu các đệ tử nghĩ như thế thì tức là đã phạm vào giới vọng tự sinh tứ của Phật môn. Chả lẽ Đại Bi bại một trận thì người ta dám coi thường võ công của bổn phái?” Té ra lúc nãy A La tôn giả tỉ thí với Đại Bi thiền sư đã dùng Sư tử hống phá Kim cương bất hoại, vốn là có thể thi triển đòn sát thủ nhưng y chỉ dùng hai thành lực đạo, Đại Bi thiền sư chẳng hề hấn gì. Thống Thiền thượng nhân biết võ công của Bản Không thượng nhân đi theo con đường cương mãnh, nếu ông ta ra tiếp chiến với A La tôn giả, e rằng sau khi ông ta phát động thần công mà không thâu thế được thì sẽ đả thương đối phương. Bởi vậy mới chấp nhận chịu thua một trận.
A La tôn giả vẫn đứng ở giữa sân, lớn giọng nói: “Bần tăng đến du ngoạn quý quốc, may mắn được gặp buổi thịnh hội, từ lâu đã ngưỡng mộ võ công trung thổ, có vị nào ra chỉ giáo?” Tuy quần hùng biết y chỉ muốn đến tìm hiểu võ thuật, nhưng rốt cuộc y là người của Mạnh Thần Thông, bởi vậy không thể lại để thua y nữa. Nhưng một người như Đại Bi thiền sư mà vẫn bị y đánh bại, còn tôn sư các phái thì vì giữ thân phận nên không muốn ửng chiến, trong nhất thời không nghĩ ra ai là người thích hợp.
Đường Kinh Thiên khẽ nói: “Băng Nga, muội có thể thắng được y.” Băng Xuyên thiên nữ cười: “Võ công của muội cũng không phải của trung thổ.” Vốn là Đường Kinh Thiên cũng nắm chắc phần thắng, nhưng chàng đã tỉ thí với A La tôn giả một lần ở Băng cung, nếu lần này mà ra đấu với y nữa, dù có đánh thắng cũng sẽ bị y cười thầm là Trung Hoa không còn người giỏi. 
Chợt một tràng cười cất lên, Dực Trọng Mâu chống gậy bước ra, cười ha hả nói: “Ăn mày già may mắn không chết, nên muốn ra lãnh giáo thần công tuyệt học của cao tăng.” Dực Trọng Mâu cười là để Mạnh Thần Thông nghe, ngày trước Mạnh Thần Thông tuy không có ý giết chết ông ta, chỉ dùng Tu la âm sát công đến tầng thứ bảy nhưng cũng không ngờ trong vòng nửa năm ông ta có thể khỏe lại mà lại còn dámra tỉ thí, y không khỏi giật mình, thầm nhủ: “Thiếu dương thần công quả có vài phần kỳ diệu, nếu Lữ Tứ Nương còn sống, hôm nay e rằng mình không thể nắm chắc phần thắng.” A La tôn giả không biết Dực Trọng Mâu có xích mích với Mạnh Thần Thông, lạnh lùng hỏi: “Có phải Dực bang chủ muốn tỉ thí bằng binh khí không?” Dực Trọng Mâu trả lời: “Đúng thế, đại sư cũng đã tỉ thí quyền cước, cũng nên đổi khẩu vị!” A La tôn giả rút ra một cây bảo đao huyền thiết, Dực Trọng Mâu nói: “Đại sư từ xa đến đây, chủ không chiếm khách, xin mời xuất chiêu!” A La tôn giả múa cây đao một vòng rồi nói: “Đao kiếm vô tình, xin hãy để ý!” Đao quang lóe lên lập tức chém ngang tới, y thầm nhủ: “Dù mình không đả thương được y, cũng có thể chặt gãy cây trượng của y, xem y có còn cười được hay không?” Cây huyền thiết bảo đao của A La tôn giả nặng đến năm chục cân, mà lại sắc bén vô cùng, đó là cây bảo đao có tiếng ở Ấn Độ, lại thêm y đã luyện nội công thượng thừa Giáng long phục tượng cho nên chém xuống một đao thì tựa như mở núi phá đá, uy mãnh tuyệt luân. Dực Trọng Mâu cũng múa cây gậy một vòng, quét ngang ra, gậy và đao dao nhau, lập tức lửa bắn tung tóe, âm thanh phát ra chấn động lỗ tai mọi người, binh khí của đôi bên đều chẳng suy suyển, nhưng cả hai người đều bị lực phản chấn của đối phương dội ngược lại lắc lư không ngừng! A La tôn giả giật mình, thầm nhủ: “Xem ra lão ăn mày già này lợi hại hơn hòa thượng Thiết Lâm mấy phần!” Rồi y không dám khinh địch, múa cây bảo đao xử ra một chiêu Giáng long đao pháp rồi vận đụng cả Giáng long phục trượng thần công của Phật môn, dồn nội lực lên mũi đao, nhất thời khắp trời là đao ảnh, hóa thành hàng trăm thanh bảo đao, trong vòng khoảng mười trượng vuông đều là ánh đao chứ không thấy bóng người! Đệ tử của Cái Bang và Mang Sơn đều lo lắng cho Dực Trọng Mâu, sợ rằng ông ta khó chống đỡ nỗi thế tấn công mãnh liệt của đối phương, chợt Dực Trọng Mâu hú dài một tiếng, trượng pháp đột nhiên thay đổi, cây trượng múa tròn, lúc này chỉ thấy một mảng bóng trượng chặn màn đao của đối phương, lúc này đệ tử Cái Bang vừa mừng vừa lo, kêu lên: “Ôi chao bang chủ đã sử dụng Phục ma trượng pháp!” té ra bộ Phục ma trượng pháp này rất mất sức, năm xưa Thiết quải tiên Lữ Thanh đã đại chiến với quốc sư nước Nề Bách Nhĩ trong Băng cung, ông ta đánh xong một trăm lẻ tám đường phục ma trượng pháp thì giết chết được đối phương, nhưng bản thân cùng kiệt lực mà chết, đệ tử Cái Bang đương nhiên biết chuyện này, bởi vậy thấy bang chủ sử dụng Phục ma trượng pháp thì không khỏi thầm lo, chỉ e Dực Trọng Mâu lại đi theo vết xe đổ của Thiết quải tiên Lữ Thanh.
Phục ma trượng pháp triển khai quả nhiên khác hẳn lúc nãy, chiêu số vừa đánh tới thì tựa như giữa trời sóng biển, A La tôn giả dốc hết Giáng long phục trượng công, vòng đao quang tuy thu hẹp nhưng tiềm lực phản kích đã tăng lên rất nhiều, hai luồng lực đạo chạm vào nhau khiến cát chạy đá bay, chỉ nghe tiếng kim khí giao nhau chấn động lỗ tai. Phục ma trượng pháp chia thành ba đoạn, ba mươi sáu chiêu ở đoạn thứ nhất là công phu cương mãnh, hai bên ngang sức nhau. Ba mươi sáu chiêu của đoạn thứ hai phải dùng tiềm lực nội gia, lấy ý đánh trượng chỉ đông đánh tây, chỉ nam đánh bắc, dùng lực tuy trầm nhưng không có tiếng vang, chỉ thấy A La tôn giả nổi gân xanh trên trán, vòng đao quang lại thu nhỏ đi rất nhiều.
Đệ tử Cái Bang vừa xem vừa đếm, trong chớp mắt đã hết ba mươi sáu chiêu của đoạn thứ hai, Dực Trọng Mâu hình như hơi chiếm được thượng phong nhưng vẫn chưa phá được đao quang hộ thân của A La tôn giả, ba mươi sáu chiêu của đoạn thứ ba là tốn sức nhất, đệ tử Cái Bang đều kinh hoảng.
Chỉ thay chiêu số hai bên chậm dần lại, Đường Kinh Thiên bước tới bên cạnh Thống Thiền thượng nhân, khẽ nói: “Trận này hai bên vốn có ý ấn chứng võ công, không cần phải liều mạng, mong thượng nhân làm chủ giảng hòa cho họ.” Thống Thiền thượng nhân hơi trầm ngâm, chưa kịp định đoạt thì ngay lúc này chợt thấy A La tôn giả gầm lớn một tiếng, đao và trượng giao nhau không thể gỡ ra được, thế nhưng chỉ trong khoảnh khắc, sau khi A La tôn giả gầm lớn một tiếng thì chợt nghe keng một tiếng, cây bảo đao của A La tôn giả bay vút lên trời, cây trượng của Dực Trọng Mâu rơi xuống đất. Té ra A La tôn giả đã biết không thể thủ thắng cho nên diễn lại trò cũ, sử dụng công phu Sư tử hồng nhưng Phục ma trượng pháp cương mãnh tuyệt luân, y dùng công phu Sư tử hống thì lực phòng ngự đương nhiên giảm bớt, bởi vậy cây bảo đao của y mới bị đánh bay trước, sau đó Dực Trọng Mâu mới bị chấn động với tiếng gầm của y, cây trượng cũng rơi xuống, lúc này Dực Trọng Mâu đã đánh được tám mươi mất chiêu Phục ma trượng pháp.
Đôi bên đều không bị thương, theo tình hình lúc này thì ai rơi binh khí trước người đó thua, lẽ ra phán Dực Trọng Mâu thủ thắng, nhưng A La tôn giả đã đánh trước với Đại Bi thiền sư một trận, Mạnh Thần Thông nhắc lại điều này, cho rằng Dực Trọng Mâu đã chiếm một chút phần hơn, thế là trận đấu được xử hòa.
Đệ tử Cái Bang tuy không phục, nhưng thấy bang chủ cũng chẳng hề chi bởi vậy cũng bỏ qua.
Dực Trọng Mâu đã đánh đến chiêu thứ tám mươi mốt của Phục ma trượng pháp, nếu tiếp tục mãi dù cho có thắng được đối phương thì bản thân cũng hao phí rất nhiều chân lực.
Tán Mật pháp sư phía Mạnh Thần Thông bước ra, Phùng Lâm cười nói: “Đến lượt ta!” Đang chờ y gọi lên khiêu chiến thì đã lắc người ra giữa sân, thân pháp của bà ta nhanh đến nỗi khó hình dung! Phùng Lâm là nữ hiệp tiền bối nổi danh thiên hạ, vừa xuất hiện đã thi triển khinh công tuyệt diệu, đệ tử các phái đều phấn chấn tinh thần.
Tán Mật đại sư chắp tay trước ngực, thi lễ nói: “Được nữ hiệp chỉ giáo, tiểu tăng vinh hạnh vô cùng. Tỉ thí như thế nào mong nữ hiệp nói rõ.” Phùng Lâm nghĩ ngợi rồi cười rằng: “Đa tạ đại sư đã nhường cho tôi ra đề, nhưng tôi cũng không muốn chiếm phần tiện nghi của ông, cứ chọn một tuyệt kỹ của ông để tỉ thí vậy. Pháp sư, ông là đệ tử cửa Phật, đã quen ngồi bồ đoàn, tôi xin thỉnh giáo công phu ngồi thiền của ông.”
Mọi người đều ngạc nhiên: “Ngồi thiền làm sao có thể biết được võ công của ai cao thấp?” Chỉ thấy Phùng Lâm ngó nghiêng rồi chỉ hai cây đại thụ ở phía đối diện nói:
“Ngồi thiền trên bồ đoàn chẳng thử được công phu, chúng ta ngồi thiền trên cây, ai rơi xuống trước thì người đó thua. Còn dùng phương pháp nào buộc đối phương rơi xuống thì cứ tùy nghi.” Mọi người nghe xong thì mới biết Phùng Lâm mượn danh tỉ thí tọa thiền nhưng thực ra là tỉ thí võ học thượng thừa. Nhưng hai cây đại thụ ấy cách nhau đến hơn mười trượng, Phách không chưởng lực mạnh đến bao nhiêu cũng không đánh được xa đến thế, trừ phi là dùng ám khí, nhưng mọi người đều biết nội công của Tán Mật pháp sư và Phùng Lâm đã đến cảnh giới đệ nhất lưu, chưa bao giờ dùng ám khí. Tán Mật pháp sư điềm nhiên nói: “Nữ hiệp ban dạy, nào dám không nghe theo, xin mời!” Phùng Lâm cũng không khách sáo, bà ta điểm mũi chân phóng vọt lên cây đại thụ ở phía đông rồi hạ xuống một cành cây chỉ nhỏ bằng ngón chân cái, bà ta ngồi xếp bằng xuống mà cành cây chỉ hơi rung rinh một chút, tựa như con chuồn chuồn đậu trên cây chứ không phải một con người, khinh công tuyệt diệu ấy khiến cho người của Mạnh Thần Thông cũng không khỏi reo lên, đệ tử các phái thì càng không cần phải nói. Trong tiếng reo hò, Tán Mật pháp sư cũng phóng người lên, ông ta không xoay người trên không trung như Phùng Lâm mà cứ phóng thẳng người lên rồi hạ thẳng xuống, ngồi xếp bằng trên một cành cây to, cành cây trầm xuống dưới rồi bật lên trở lại, Tán Mật pháp sư hình như ngồi không vững nhưng cuối cùng cũng ổn. Xem ra tư thế của ông ta không đẹp đẽ bằng Phùng Lâm, cũng không nhẹ nhàng bằng bà ta, nhưng những cao thủ đều hiểu rằng, phóng thẳng người lên rồi hạ thẳng người xuống, cành cây sẽ chịu nhiều áp lực, dù không thể bảo khinh công của y hơn Phùng Lâm, ít nhất cũng chẳng kém Phùng Lâm. 
Phùng Lâm ngồi trên một cây trà, thấy Tán Mật pháp sư ngồi vững thì mới cười rằng: “Pháp sư, tôi mượn hoa dâng Phật, mong pháp sư nhận lấy!” Rồi phóng một đóa hoa trà màu đỏ về phía Tán Mật pháp sư, Tán Mật pháp sư chắp tay rồi chợt ngửa đầu nói: “Đa tạ!” thật kỳ lạ, đóa hoa ấy phóng tới rất nhanh, nhưng khi đến đỉnh đầu ông ta thì hình như dừng lại ở một khoảng sát na rồi mới chậm rãi rơi xuống, tiếp theo đóa thứ hai cũng thế, đóa thử ba cũng vậy. Bọn đệ tử các phái đều không hiểu sự ảo diệu trong đó, nhưng những bậc trưởng bốn thì đều động dung, Phùng Lâm đã sử dụng công phu Trích diệp phi hoa, nhưng Tán Mật pháp sư thì chỉ cần thổi ra một hơi chân khí thì đã hóa giải nội kình hàm chứa trong đóa hoa trà khiến nó phải bay chậm lại rồi nhẹ nhàng rơi xuống. Đường Kinh Thiên thầm lo, quay sang Băng Xuyên thiên nữ khẽ nói: “Võ học của Mật Tông Hồng giáo quả nhiên danh đồn không ngoa, dù cho dì không bại, muốn thắng được y e rằng cũng rất khó!” Phùng Lâm cười nói: “Hoa đỏ thì phải có lá xanh!” rồi hái một nắm lá cây, thuận tay vãi ra, chỉ thấy từng phiến lá xanh nương theo gió bay về phía Tán Mật đại sư, đó chính là thủ pháp ném ám khí Thiên nữ tán hoa, nhưng Phùng Lâm đã phát ra bằng công lực nội gia mấy mươi năm, mỗi phiến lá đều lợi hại hơn ám khí bình thường nhiều. Nếu ở đất bằng có lẽ có thể né tránh được, nhưng Tán Mật pháp sư ngồi trên cành cây, không thể nào xoay chuyển được, dù nội công của y cao cường hơn nữa cũng không thể thổi một hơi bay hết tất cả những phiến lá, ai nấy đều mở to mắt xem ông ta ứng phó thế nào? Chỉ thấy Tán Mật pháp sư hơi lắc người, cành cây trầm xuống, ông ta vẫn chắp tay trước ngực, trồi lên sụp xuống theo cành cây không hề ra tay phòng ngự, chỉ trong chớp mắt trên cành cây ông ta ngồi dính đầy lá, chiếc áo cà sa vốn màu đỏ đột nhiên cũng nhuộm đầy sắc xanh.
Thống Thiền thượng nhân nói: “Tiên sư từng nói võ công của Hồng giáo Mật Tông cũng xuất phát từ Thiên Trúc, luyện đến cảnh giới thâm sâu nhất có lẽ cũng có nhiều chỗ giống với bổn phái, quả nhiên không sai.” Té ra Tán Mật pháp sư đã dùng một toạ công phu tên gọi Tu di giới tử công, loại công phu này tương tự như Kim cương bất hoại thân pháp của phái Thiếu Lâm, tên gọi của môn công phu này có nghĩa, nếu luyện đến cảnh giới cuối cùng, dù có dời một quả núi lớn như núi Tu di đè lên đầu ông ta, chẳng qua cũng giống như đặt một hạt cải. 
Bản Không thượng nhân nói: “Đáng tiếc vẫn chưa đến mức lư hỏa thuần thanh, nhưng có thể chống đỡ nổi công phu Trích diệp phi hoa của Phùng nữ hiệp coi như cũng hiếm có.” Bản Không thượng nhân đã luyện Kim cương bất hoại thân pháp đến bảy phần hỏa hầu, tự tin rằng mình có thể tương đương với Tán Mật pháp sư. Nếu gặp phải Thống Thiền thượng nhân, những chiếc lá của Phùng Lâm khi chạm vào người ông ta sẽ hóa thành bột. Giờ đây lá của Phùng Lâm vãi ra tuy chưa thể đả thương được Tán Mật pháp sư nhưng cũng khiến cho ông ta cảm thấy có áp lực đè vào người.
Hễ cành cây trầm xuống thì thân người cứ lắc lư không ngừng, cho nên chỉ có thể nói là tương đương chứ chưa phân thắng bại.
Lại nói Phùng Lâm thấy không làm gì được đối thủ thì nhíu mày, chợt nảy ra một kế cười hì hì rằng: “Thiền công của pháp sư thâm sâu, quả nhiên không hổ là một bậc cao tăng hữu đạo, nhưng không biết đã luyện được đến mức nhìn không thấy, nghe không thấy, ngửi không thấy hay không.” Trong thành ngữ chỉ có câu “nhìn không thấy, nghe không thấy”, còn “Ngửi không thấy” là Phùng Lâm nói càn, song cũng không thể bảo là hoàn toàn nói bừa được, bà ta đang muốn thử công phu của Tán Mật pháp sư, chỉ thấy bà ta đang cười thì tay phải ngắt một nắm lá, tay trái ngắt hai đóa hoa vò nát thành bột, bày trên lòng bàn tay, trước tiên bà ta phóng nắm lá, sau đó vận khí thổi bột hoa bay ra, bột hoa cuộn lại thành hình viên trụ bắn thắng tới trước mặt Tán Mật pháp sư.
Lá cây rơi xuống lả tả, nhưng bột hoa không hề chịu lực, bột hoa không thể nào thổi hết, cho nên có một ít đã bay vào mũi ông ta, niêm mạc trong lỗ mũi là nơi nhạy cảm nhất, bột hoa đương nhiên không thế đả thương được ông ta, nhưng đã dính vào niêm mạc thì sẽ gây ra cảm giác ngứa ngáy, đó là cảm giác khó chịu nhất, dù Tán Mật pháp sư võ công có cao hơn nữa cũng không khỏi hắt hơi hai tiếng.
Tán Mật pháp sư chắp tay ngồi xếp bằng tọa thiền, vốn là “Pháp tướng trang nghiêm”, đột nhiên lại hắt hơi thì trông buồn cười vô cùng, Giang Nam nhịn không được bật tiếng cười, tiếp theo bọn đệ tử tiểu bối cũng cười hi hi ha ha, tôn sư các phái thì nhăn mặt, cố nén cười, Kim Quang đại sư lắc đầu: “Phùng nữ hiệp thật nhiều trò!”
Tán Mật pháp sư sầm mặt, nói: “Có đi thì phải có lại, tiểu tăng xin trả!” Rồi tay trái ngắt một nắm lá cây, tay phải bẻ một bó cành cây nhỏ như chiếc đũa, trước tiên phóng lá cây ra, Phùng Lâm hơn Tán Mật pháp sư công phu Trích diệp phi hoa nhưng thần công hộ thể thì không bằng, thấy đối phương phóng lá cây tới thì bà ta cũng vãi ra một nắm lá, lá cây bay mù trời rồi rơi cả xuống đất. Khi lá cây đang bay lả tả trên không trung thì chợt nghe một tiếng hú dài, té ra Tán Mật pháp sư đã phóng bó cành cây như liên châu tiễn, nhưng không phải phóng về phía Phùng Lâm mà là phóng vào cành cây Phùng Lâm đang ngồi, cành cây ấy chỉ nhỏ bằng ngón chân cái chìa ngang ra dài khoảng hai trượng. Phùng Lâm ngồi ở đầu mút, Tán Mật pháp sư chính là phóng vào đầu mút này.
Với bản lĩnh của Phùng Lâm, những cành cây ấy đương nhiên không thể đả thương được bà, nhưng thủ pháp phóng cành cây của Tán Mật pháp sư khiến bà không thể đề phòng nổi, dù tay bà ta có dài đến mức nào, nếu bay người lên phất ống tay áo ra thì lại không phù hợp với quy tắc của cuộc thi tọa thiền, chỉ đành mở mắt trân trân nhìn ám khí của đối phương cắm vào cành cây mình đang ngồi.
Ai cũng biết bắn người trước hết phải bắn ngựa, nhưng không ai làm được điều đó. Công lực của Tán Mật pháp sư quả thật kinh người, hai cây đại thụ cách nhau hơn mười trượng, nhưng ông ta đã vận nội lực phát ra một cành cây bé nhỏ còn hơn cả bắn cung. Chỉ nghe tiếng cành cây gãy kêu lên răng rắc, hình như đã có mấy nhành cây xuyên vào cành cây Phùng Lâm đang ngồi, nếu ngồi trên lưng ngựa thì có thể né tránh, hoặc có thể thúc ngựa chạy, nhưng ngồi trên cành cây thì chẳng còn cách nào.
Phùng Lâm nhíu mày, thầm nhủ: “Lão lừa trọc này thật đáng ghét, đã nghĩ ra cách âm hiểm này, mình phải đùng gậy ông dập lưng ông mới được.” Thực ra dù cho Phùng Lâm cùng dùng nhành cây bắn về phía cành cây của đối phương thì Phùng Lâm cũng thua thiệt, một là vì cành cây mà Tán Mật pháp sư đang ngồi to hơn, hai là nội lực của Phùng Lâm hơi kém hơn Tán Mật pháp sư, nếu phóng ra cùng một lúc thì chắc chắn cành cây của Phùng Lâm sẽ gãy trước.
Bọn Trần Thiên Vũ và Giang Nam đứng sau lưng vợ chồng Đường Kinh Thiên, Giang Nam thè lưỡi kêu lên: “Hỏng bét, trận này chắc thua. Ôi, thắng rồi, thắng rồi!”
Trong khoảnh khắc Giang Nam đang kêu hoảng, cành cây mà Phùng Lâm đang ngồi đã gãy, thế nhưng trong khoảng sát na điện chớp lửa xẹt, Phùng Lâm bốc người lên phóng ra công phu Trích diệp phi hoa cuối cùng, hai đóa hoa đỏ bắn ra, cành cây của Tán Mật pháp sư đang ngồi không có gió mà đung đưa, oằn xuống thành hình bán nguyệt, hai đóa hoa của Phùng Lâm trúng vào gần huyệt vĩ lư ở dưới mông của y, Tán Mật pháp sư lộn trút đầu xuống, cành cây của Phùng Lâm tuy đã gãy trước nhưng bà ta phóng vọt người lên bởi vậy còn cao hơn y ba thước.
Nhưng biến hóa không ngờ đã xảy ra, Giang Nam cười chưa dứt thì chỉ thấy Tán Mật pháp sư lộn một vòng trong không trung, rồi bật thẳng người ra, hạ từ trên cao xuống giống như lúc mới phóng lên cành cây, nhưng tốc độ hạ xuống cực kỳ chậm rãi còn Phùng Lâm thì nhanh hơn y nhiều, chỉ trong chớp mắt Phùng Lâm đã rơi xuống trước y. Giang Nam trợn mắt há thồm, không biết sự ảo diệu trong đó các bậc cao thủ đều nhận ra, Tán Mật pháp sư dùng nội công thâm hậu thi triển công phu cộng thân pháp để giữ vững thân hình, giảm tốc độ rơi xuống! Trong chớp mắt Phùng Lâm đã rơi xuống cách mặt đất còn ba thước, Giang Nam thở dài: “Chao ôi, lại thua nữa rồi!” chàng vừa nói ra chữ “thua”, chợt thấy Phùng Lâm chân trái đạp mặt chân phải, đột nhiên lại phóng vút lên không ba trượng nữa, cứ ba lần trồi sụp như thế thì cuối cùng Tán Mật pháp sư đã rơi xuống trước, Phùng Lâm mới chạm chân xuống đất, nhất thời tiếng vỗ tay vang lên như sấm.
Khi họ tỉ thí, đã sớm nói rõ ai rơi xuống trước thì coi như thua, dù cành cây của Phùng Lâm bị gãy trước, nhưng Tán Mật pháp sư đã rơi xuống đất trước, bên thua vẫn là Tán Mật pháp sư. Nhưng thật kỳ lạ, Phùng Lâm thắng được một trận mà chẳng thấy vui tí nào.
Té ra lúc này Phùng Lâm đang nghi hoặc, tuy cành cây của bà bị gãy, lúc bốc người lên đã phát ra một đòn Phách không chưởng về phía Tán Mật pháp sư đồng thời lại phóng ra hai đóa hoa màu đỏ, lúc đó khoảng cách giữa hai bên là bảy tám trượng, bà tự thấy công lực của mình chỉ đủ làm cho cành cây của Tán Mật pháp sư lắc lư nhưng kết quả cành cây đã oằn xuống thành hình bán nguyệt, uy lực của chưởng kình hơn hẳn điều bà ta đã tính toán song Tán Mật pháp sư rơi xuống quả thật là do Phùng Lâm phóng hai đóa hoa. Số là khi còn trẻ Phùng Lâm đã ở vài năm trong phủ của hoàng tử thứ tư là Dận Trinh, trong Phủ tứ hoàng tử có nhiều dị nhân, bà ta cũng học được rất nhiều võ công kỳ lạ, trong đó có một môn là Điểm ẩn huyệt pháp của Hồng giáo, có thê phá khí công hộ thể của Mật Tông, nhưng cần phải điểm vào hai huyệt li thủy, khảm hỏa ở xương cùng mới có hiệu quả, hai người ngồi tọa thiền cách nhau hơn mười trượng, đừng nói là Phùng Lâm không đủ sức làm, dù có đủ sức, hai người đối diện với nhau bà ta cũng không có cách nào đánh trúng huyệt đạo phía sau lưng đối phương. Bởi vậy cho đến khi cành cây của Tán Mật pháp sư oằn xuống thành hình vòng cung, lưng của ông ta hướng về phía bà, bà mới nắm cơ hội trong chớp mắt ấy xử ra công phu Trích diệp phi hoa, dùng phương pháp đả huyệt của Hồng giáo đánh trúng vào huyệt đạo ở xương cùng của Tán Mật pháp sư. Cho nên trong trận đấu này khinh công và công phu Trích diệp phi hoa của Phùng Lâm hơn hẳn đối phương; còn công lực và Tu di giới tử công của Tán Mật pháp sư hơn được Phùng Lâm. Mỗi bên đều có sở trường, nếu không phải trong khoảnh khắc quan trọng, cành cây của Tán Mật pháp sư bị oằn xuống thì Phùng Lâm dù có võ công cao hơn cũng không thể nào đánh trúng vào hai huyệt li khảm của đối phương, lúc đó người rơi xuống trước chính là Phùng Lâm. Phùng Lâm thầm nghi ngờ trong lòng, Tán Mật pháp sư thì tưởng rằng chính bà ta đã dùng Phách không chưởng đánh oằn cành cây của mình khi đang lơ lửng ở trên không trung, tuy chẳng làm gì được y nhưng Tán Mật pháp sư cũng thầm khâm phục, cam tâm tình nguyện chịu thua, chắp tay nói: “Phùng nữ hiệp đúng là hiểu biết rộng rãi, cả kỳ công điểm huyệt của tệ giáo mà nữ hiệp cũng biết, thật khiến cho tiểu tăng bội phục.” Lời ấy đương nhiên là nhận thua, nhưng mặt khác cũng nói rằng Phùng Lâm dùng công phu Hồng giáo đánh ngã y, tuy có thất bại nhưng cũng không đến nỗi mất mặt.
Phùng Lâm nghiêm mặt đáp: “Pháp sư thần công thâm hậu, tôi quả thật may mắn mới thắng được, không dám nhận lời khen. Trước đây đã đắc tội với pháp sư ở Băng cung, mong pháp sư đừng để trong lòng.” Bà ta khen ngợi thần công của Tán Mật pháp sư quả thực cũng rất khâm phục cho nên mới tạ lỗi chuyện mình coi thường ông ta.
Đó chính là: Dù thắng cũng có ba phần hiểm, bên trong chắc chắn có nội tình.
Muốn biết tiếp đó thế nào, mời xem hồi 31 sẽ rõ.