PHẦN THỨ NHẤT: THƯƠNG BÁ
Chương 2
BỎ QUAN TÒNG THƯƠNG

Giữa trưa hè trời xanh trong không một áng mây, Lã Bất Vi là công tử trong một gia đình có cha làm nghề gác cổng ở thành Bộc Dương, như trút được gánh nặng khi học xong khoá cuối cùng ở trường tư thục, hành lý nặng trĩu thư tịch rời khỏi nhà sư phụ Bá Hạ. Nghiệp học hành mười năm gian khổ cuối cùng đã hoàn thành mĩ mãn, con đường tiến thân của Lã Bất Vi như được trải thảm hoa. Công tử họ Lã đón ánh nắng mặt trời, tràn đầy tin tưởng về tương lai.
Bá Hạ là một người thầy có óc kinh luân, dạy hỗ học trò không biết mệt mỏi. Thầy Bá Hạ đặt niềm hy vọng rất lớn vào Lã Bất Vi – người học trò ông thương yêu nhất.
Lã Bất Vi quay đầu lại, cúi chào nói: “Thầy không phải tiễn con nữa, gia phụ bảo hai ba hôm nữa sẽ mở tiệc rượu để cảm tạ công ơn dạy dỗ của thầy”.
Thầy Bá Hạ nhẹ nhàng nói: “Bất Vi này, về nói với lệnh tôn đại nhân đừng có lãng phí”.
Bất Vi vui vẻ bước đi, bước chân khoan thai nhẹ nhàng. Chàng năm nay mười chín tuổi, to cao khoẻ mạnh, đôi mắt sáng sắc ẩn dưới đôi lông mày lưỡi mác đen và rậm, cánh mũi to tròn chỉ có điều nhân trung hơi dài. Theo thuyết tướng số, con người này phúc hoạ luôn đi liền nhau, vinh quang đấy mà cũng cay đắng đấy. Quanh cằm Bất Vi lún phún ria mép, biểu hiện của sự trưởng thành. Lã Bất Vi là một chàng trai khôi ngô tuấn tú.
Trường học của thầy Bá Hạ cách thành Bộc Dương không xa, chỉ qua con sông Bộc Dương xanh biếc hiền hoà là tới. Vì vậy Lã Bất Vi có thể nhanh chóng vào thành, hoà mình vào những con đường phồn hoa náo nhiệt. Rẽ vào một góc đường, Lã Bất Vi thấy rất nhiều người tụ tập. họ ghé tai thì thầm với nhau dường như là đang bàn luận về một vấn đề gì hiếm lạ kỳ quái!
Mười năm nay Lã Bất Vi không hề biết chuyện ngoài xã hội, chỉ toàn tâm toàn ý đọc sách thánh hiền. Mặc dù hàng ngày đều đi qua đường ngang ngõ dọc nhưng không hề dừng chân quan sát tò mò hỏi han. Ngày hôm nay việc học đã xong, nên cũng muốn nghe ngóng chuyện hiếu kỳ, bèn thẳng tiến hoà vào đám người đông vui nhộn nhịp. Rất nhanh Lã Bất Vi đã hiểu ra mọi chuyện.
Vào một đêm sáng trăng, một con rắn độc đã cắn chết công tử Nộ Khiên. Con rắn đó thân dài mười trượng, vằn đen trắng, trườn nhanh thoăn thoắt, dưới ánh nến và gươm của hàng trăm quân lính nó lẩn mất không thấy tăm hơi. Vua Vệ Nguyên Quân trong những ngày đau thương buồn bã đã mời thầy mo đến xem bói và đem kết quả dán ở ngoài cổng thành: con rắn này chính là do yêu ma biến hoá thành, hiện vẫn đang ẩn nấp trong thành Bộc Dương, mong rằng quần chúng nhân dân chú ý cảnh giác và tìm bắt.
Lệnh thư của vua ban bố chưa được bao lâu thì trong cung lại truyền ra một cách lý giải khác. Có người nói con rắn đó là do An Li Vương của nước Nguỵ thả ra với ý đồ để nó cắn chết Vệ Nguyên Quân, nhưng kết quả lại không như ý muốn. Nguyên do là vào năm thứ 31 đời Vệ Hoài Quân, quốc vương đến nước Nguỵ triều cống. An Li Vương đã tống giam Hoài Quân vào ngục rồi giết chết, đưa con rể của mình là Vệ Nguyên Quân lên làm quốc vương. An Li Vương muốn biến một huệyn nhỏ của nước nGuỵ thành nơi nuôi ngựa nhưng Vệ Nguyên Quân không chấp thuận, vì vậy An Li Vương muốn trả thù đứa con rể vong ơn bội nghĩa này. Lại có người nói con rắn là do mẹ của Quân Giác thả ra. Nguyên nhân là vì bà này phát hiện thấy Hoàng thượng ngày càng thân thiết với công tử Nộ Khiên và xa lánh thái tử Quân Giác, bà lo một ngày nào đó Hoàng thượng sẽ phế truất Quân Giác, lập Nộ Khiên làm Thái tử. Nhưng rốt cuộc con rắn kia do ai thả ra thì không ai rõ cả. Trong cung của Vệ Nguyên Quân luôn được bảo vệ chặt chẽ còn ngoài cung khắp đường cùng ngõ hẻm luôn có đội quân đi tuần tra bất kể ngày đêm. Khi nào tìm con rắn không chân này họ thường xoi mói vào những người dân qua lại.
Lã Bất Vi thấy khi mọi người bàn luận về chuyện này luôn lộ rõ vẻ ưu tư lo sợ trên gương mặt họ. Chàng mang theo hình ảnh con rắn kia về nhà. Phụ thân của Lã Bất Vi là Lã Hâm đỡ hành lý cho con, vui mừng kể với con trai rằng ông đã nhờ một người làm cho quan đại phu Vệ Hoành xin vị trí môn khách trong phủ. Lã Bất Vi biết quan đại phu Vệ Hoành là chỗ thân thích với vua Vệ Nguyên Quân, nếu được Vệ Hoành mến mộ thì có thể đi cùng với vị đại phu này vào triều yết kiến, nắm bắt cơ hội này để trổ tài văn thao võ lược, khiến vua nể phục ắt sẽ được phong hầu phong tướng. Lã Bất Vi đắc ý kể với cha về những điều biết được qua mười năm học tập vất vả và những ý tưởng lớn lao trong tương lai. Lã Hâm liên tục gật đầu say sưa lắng nghe từng lời nói của đứa con trai độc nhất. Sau đó chàng kể cho cha nghe về chuyện con rắn, người cha nói rắn không cắn đến nhà ta thì quan tâm đến nó làm gi, chi bằng ta dắt con đến bái kiến đại phu Vệ Hoành.
Lã Bất Vi mãi mãi không quên cảnh tượng huy hoàng khi lần đầu tiên đến bái kiến Vệ Hoành. Khi cha dắt chàng vào trong phòng khách của nhà đại phu, Vệ Hoành với mũ cao đai rộng đang cùng với các môn khách bàn luận chuyện kim cổ. Những chiến đàn sắt được bầy khắp phòng và tiếng của Vệ Hoành cao đàm khoát luận khiến cho chàng có cảm giác bị kìm nén. Sau khi Vệ Hoành ca ngợi một hồi về tài năng của chàng, liền tiện thể hỏi luôn một số điển cố về “Thi Kinh”, “Quốc Ngữ”, chàng đều đối đáp trôi chảy. Vệ Hoành vui vẻ cười nói: nhân tài này có thể lập nên cơ đồ. Lã Bất Vi thấy cha và các vị môn khách đều cùng cười với đại phu.
Khi cha của Lã Bất Vi cáo từ ra về, Vệ Hoành nói: lát nữa ta sẽ vào triều yết kiến Hoàng thượng, để Bất Vi đi cùng ta. Lã Hâm vội khấu đầu tạ ơn.
Sau khi Lã Hâm đi khỏi, Vệ Hoành lại tiếp tục tán chuyện với các vị môn khách và sai chàng làm một số việc vặt như lấy sách, gọi người hầu. Điều này khiến cho chàng có cơ hội được đi lại trong phủ của đại phu, tận mắt chứng kiến sự xa hoa lãng phí của cuộc sống vương giả, làm cho chàng liên tưởng đến gia cảnh nghèo khó địa vị thấp, ít bổng lộc của cha chàng. Điều đó làm dịu đi cảm giác kiềm nén, nhưng lại như có đám mây phủ lên tâm tưởng của chàng. Khi được đối mặt với cung điện nguy nga tráng lệ của Hoàng thượng thì chàng vô cùng sửng sốt, chợt hiểu ra thế nào là sự tôn nghiêm và phú quý thực sự. Các vị hạ thần và môn khách khác đều theo vua Vệ Nguyên Quân vào cung điện, vì Lã Bất Vi là người mới nên đứng đợi ở ngoài cửa cung. Chàng phóng tầm mắt qua cánh cửa rộng mở vào tới khu vườn của Vương cung. Bên trong là những lầu son gác tía. Ở một khoảng đất trống rộng lớn có một đàn tuấn mã kháoc những chiếc áo màu muôn tía nghìn hồng, thỉnh thoảng chúng lại phát ra tiếng phì phì trong mũi. Bên cạnh là những chiếc xe lọng vàng của Hoàng thượng, của các đại phu, ngoài ra còn có chiếc xe mui của người Hậu Kì xinh đẹp, tất cả đều được vẽ vời cầu kỳ. Hai bên cổng thành là những võ sĩ thân đeo kiếm đầy vẻ cương nghị. Các thái giám, cung nữ đi lại như mắc cửi, thỉnh thoảng lại nghe thấy những tiếng cười lanh lảnh của họ.
Lã Bất Vi than thở nói: “Đại trượng phu phải được hưởng cuộc sống vinh hoa phú quý như vậy”.
Bóng của mái hiên ngoài hành lang ngày càng dài ra, mặt trời đang lặn dần. Lã Bất Vi đã đợi khá lâu mới thấy Vệ Hoành và các môn khách chuyện trò vui vẻ từ cung đi ra.
Câu chuyện về rắn độc cắn chết công tử Nộ Khiên lam đi rất nhanh, chẳng mấy chốc đã đến thành Bộc Dương. Trong lúc lòng người đang lo lắng hoang mang thì có hai gia đình hàng xóm ở phía đông và tây trong một ngõ hẻm rất sâu của thành Bộc Dương lại đón nhận tin vui thật đáng chúc mừng. Cụ ông họ Tống trong gia tộc họ Tống ở phía đông làm lễ mừng thọ tròn bảy mươi tuổi. Công tử Bất Vi trong gia đình họ Lã ở phía tây hoàn thành nghiệp học hành, trở thành môn khách trong phủ của đại phu.
Cụ ông họ Tống là Tống Nhưng tước vị không cao, chỉ là quan bát phẩm nhưng vì có cửa hàng tơ lụa ở thành Bộc Dương làm ăn rất phát đạt nên kiến được nhiều tiền trở thành người giàu có nhất vùng. Tống Nhưng ở vào tuổi xưa nay hiếm lại giàu có nên cũng muốn tổ chức linh đình. Sáng sớm cổng nhà Tống gia đã chăng đèn kết hoa, giết lợn mổ dê và dựng một bàn tiệc lớn ở ngoài cửa, đoàn nhạc công chơi không biết mệt mỏi, làm cho cả ngõ nhỏ nhộn nhịp vui vẻ hẳn lên.
So với nhà họ Tống thì lễ chúc mừng của nhà họ Lã lại có phần trầm lặng và tẻ nhạt hơn. Lã Hâm lòng đầy hoan hỉ tổ chức vài mâm rượu cho con trai mình, mời bạn bè tụ tập để họ thấy con trai ông là một nhân tài đã trở thành môn khách trong phủ của quan đại phu.
Lã Bất Vi đứng trước phòng khách lịch sự lễ phép nghênh đón các vị khách đến. Đúng hẹn, bạn bè người thân đã đông đủ, chỉ thiếu mỗi sư phụ Bá Hạ. Chàng lưỡng lự một hồi bèn ra cửa đứng ngóng. Chàng vừa ra cửa thì thấy khách của gia đình họ Tống ra vào nhộn nhịp, xe ngựa kiệu võng choán hết cả ngõ; trước cửa nhà họ, người tấp nập khiến hoa cả mắt. Các vị khách đến chúc mừng nhà họ Tống đa phần là các quan thần có thân phận cao quý, các nho sĩ và thương gia, họ không đi xe thì cũng cưỡi ngựa. Sau khi họ vào nhà Tống gia thì đều để xe ngựa chặn kín trước cửa nhà họ Lã, khiến cho con đường to như vậy mà không còn một chỗ đứng. Bọn súc vật lại còn thi nhau bậy ra hết lượt này đến lượt khác, mùi tanh khai đậm đặc của nước giải bao bọc lấy chàng. Chàng nghĩ đến thầy Bá Hạ khi đến đây sẽ không khỏi khó chịu. Trong lú Lã Bất Vi đang trông ngóng thì một con ngựa lắc đầu vẫy đuôi, sau khi thả ra một nhát rắm rất kêu liền ị ra một đống phân lớn ngay trước bậc thềm của nhà chàng. Chàng vô cùng khó chịu liền với cây gậy ở trên mái nhà quật vào mông con ngựa. Con ngựa bị đánh bất ngờ giật mình hí lên một tiếng rồi lồng lên chạy như điên, phi qua con đường đầy xe và người. Người và ngựa trước cổng nhà họ Lã và họ Tống nháo nhác tạo thành một mớ hỗn độn. Con ngựa ban nãy hùng hổ vọt lên phía trước, phóng qua bàn tiệc và hội nhạc công. Lúc này gậy gỗ loạn xạ, người ngã ngựa đổ. Chiếc xe điểm vàng quý giá đặt trước cửa để dành riêng cho ông cụ Tống Nhưng ngồi bị đè bẹp rúm ró bởi chân ngựa và người.
Cảnh hỗn loạn này sớm được những người canh cổng của gia đình họ Tống nhìn thấy, họ vội vàng hốt hoảng vào báo với chủ nhân. Tống Nhưng đang cùng với bè bạn chén tạc chén thù, nghe người hầu bẩm báo vội nói với quản gia đây là do Lã Bất Vi cố tình gây ra, phải phạt tiền. Sau khi người quản gia hoa chân múa tay chỉ trích Lã Bất Vi một hồi liền đòi phạt năm trăm lượng vàng. Lã Bất Vi dùng lý để cãi, nói là đuổi súc vật trong phạm vi đất nhà mình không phải là phạm pháp nên không thể bị phạt. Trong lúc chàng và quản gia nhà họ Tống đang đỏ mặt tía tai tranh luận thì khách khứa của hai nhà cũng tham gia, ai cũng thi nhau nói phía mình có lý. Lã Bất Vi thấy đối phương ngang ngược vô lý nên yêu cầu chờ trưởng Châu Bá đại nhân đến giải quyết.
Người quản gia dương dương tự đắc nói, đây là do công tử nói đấy nhá. Châu Bá đại nhân đang cùng với đại gia của chúng tôi uống rượu trong nhà, mời công tử vào.
Lã Bất Vi phẫn nộ bừng bừng tiến vào phòng khách tìm Châu Bá đang say bí tỉ. Châu Bá mắt lờ đờ sau khi nghe xong lời biện bạch của Lã Bất Vi và quản gia liền phán quyết: “Phạt Lã Bất Vi 500 lượng vàng”.
Lã Bất Vi không phục lại tranh luận với Châu Bá đại nhân, lúc này Tống Nhưng đang ngồi bên bàn rượu đứng lên hoà giải nói: “Lã Bất Vi gia đình nghèo hèn, quả thật là không có số tiền lớn như vậy, hãy để Bất Vi đến cửa hàng tơ lụa của ta làm một tháng coi như là hoà”.
Châu Bá lè nhè nói: “Tội nặng phạt nhẹ, thật lương thiện tốt bụng”.
Lã Bất Vi đang tủi thân vì oan ức thì thấy một gương mặt thanh tú ngồi ở mâm rượu khác. Chàng nhận ra đó là Vệ Hoành liền chạy lại nhờ vị hoàng thân quốc thích này lấy lại công bằng cho mình. Vệ Hoành đã ngà ngà say, thờ ơ nói: “Phán quyết của Châu Bá rất sáng suốt không thể thay đổi”.
Chàng đứng ngây ra ở đó không hiểu chuyện gì đang xảy ra, hôm qua còn khen mình là nhân tài có thể dựng nên cơ đồ mà sao hôm nay lại lạnh nhạt thờ ơ như vậy.
Cha của Lã Bất Vi sau khi biết môi chuyện thấy việc đi làm công một tháng vẫn hơn là nộp năm trăm lượng vàng. Nếu nộp năm trăm lượng vàng thì đem đầu của bốn người trong gia đình cân lên cũng không đủ, chi bằng đi làm công một tháng. Lã Hâm còn nói với con, gia đình còn phải tiêu một khoản lớn: vua Vệ Nguyên Quân hạ chỉ Thiên thần sắp đến thàng Bộc Dương nên mỗi nhà phải xây Thần đường để đón tiếp.
Lã Bất Vi cũng đành bó tay không còn cách nào khác.
Cửa hàng tơ lụa của Tống Nhưng nằm ở đoạn đường phồn hoa náo nhiệt nhất của thành Bộc Dương, mặt ngoài của cửa hàng trải dài và tráng lệ, tổng cộng có mười mấy người làm công cho cửa hàng, họ luôn luôn bận bịu.
Lã Bất Vi làm ở cửa hàng tơ lụa là chuyện bất ngờ nên có phần lúng túng, đo vải tính sổ không thạo, có lúc còn rối loạn lung tung. May mà trong cửa hàng có một người tên là Vương Khuê rất thông minh lanh lợi thạo về buôn bán đã giúp đỡ chàng không ít. Đến đây mua vải đa số là phụ nữ đầy mùi son phấn, chàng không dám nhìn thẳng vào họ.
Đột nhiên ở một nơi cách cửa hàng không xa có một đám đông tụ tập hò hét rất to. Lã Bất Vi dõi nhìn thì thấy tại nơi buôn bán súc vật và nô lệ có một người con gái bị cắm cọc tiêu bằng cỏ đang bị mọi người xét nét bình phẩm từ đầu đến chân. Vương Khuê và một vài người làm công khác dừng việc bán hàng, thích thú hoà vào đám đông. Hồi lâu mới quay lại, họ hết lời khen ngợi: “Tuyệt sắc giai nhân, thật là nghiêng nước nghiêng thành”, bảo Lã Bất Vi ra xem để mở rộng tầm mắt. Chàng thấy một người nô lệ là phụ nữ chẳng có gì đáng xem. Vương Khuê lại tiếp tục khen ngợi: “Nói về tướng mạo thì tất cả phụ nữ trong thành Bộc Dương này không ai sánh bằng. Chỉ mỗi tội thời vận không tốt, số phận long đong phải bán thân làm nô lệ. Không biết sẽ bọ ai mua về sử dụng và làm nhục đây”.
Nghe vậy, chàng rời khỏi cửa hàng tiến về phía đám đông. Trông thấy trước đầu gối của người nô lệ nữ dựng một tấm thẻ tre viết dòng chữ: “Giá của người nô lệ tuyệt hảo này là mười lạng vàng”. Chàng thấy người con gái đó dáng vẻ duyên dáng nhưng mặt mũi bẩn thỉu tóc tai bù xù, giữa hai lông mày có một cái chấm màu đỏ to bằng đầu ngón tay. Mọi người đều bảo cô ta xinh đẹp, xinh đẹp ở điểm nào cơ chứ. Chàng ngắm kỹ, qua lớp bụi bẩn quả thật vẫn giấu một gương mặt thanh tú, người con gái này quả là có một khuôn mặt rất đẹp. Chàng ngắm đi ngắm lại bỗng dưng nảy sinh tâm tình thương hoa tiếc ngọc, thở vắn than dài: “Con gái nhà ai lại rơi vào cảnh đáng thương như vậy”.
Khi Lã Bất Vi quay về cửa hàng, Vương Khuê hỉ hả cười hỏi: “Thế nào?”. Chàng trả lời: “Rất tuyệt! Rất tuyệt!”. Những người làm công trêu đùa nói: “Lã Bất Vi mua cô gái này về… làm vợ hay thiếp đi”.
Chàng châm biếm lại; “Để làm vợ hay thiếp các anh thì có”.
Không biết tự lúc nào đoàn người tụ tập lúc nãy đã tản hết. Lã Bất Vi lại chợt nghĩ tới cô gái nô lệ khi nhìn thấy một gương mặt thiếu nữ được trang điểm rực rỡ, không biết giờ đây cô ta đang bị rao bán nơi góc phố nào, hoặc giả đã rơi vào tay bậc nho tướng giàu sang nào…
Lã Bất Vi đóng chặt cửa hiệu, kết thúc một ngày buôn bán bình thường như bao ngày khác, rảo bước về nhà với một tâm trạng phấn chấn. Con đường nhấp nhô sáng rực trong ánh hồng của buổi chiều tà. Những làn khói toả lên từ mái bếp của các ngôi nhà loang ra, quyện lấy bầu không gian đang dần thẫm màu, lơ lửng như mơ ảo. Trước cửa nhiều nhà đã chất đầy gỗ, gạch, có nhà đang hối hả xếp gỗ, vọng lại những tiếng lách cách vui tai. Lã Bất Vi biết, mọi người đều tuân theo chiếu lệnh của Vệ Nguyên Quân, chuẩn bị xây điện rước thần.
Về tới nhà, qua bờ rào nhìn vào phía trong, Lã Bất Vi cũng thấy ngổn ngang những cột gỗ, hai bên là hàng đống gạch. Cha Lã Bất Vi cho hay, ngày mai nhà chàng sẽ động thổ xây điện rước thần. Chàng để ý, từ phía Tây Viện Tống Gia cũng đang vọng lại tiếng cưa gỗ hối hả, và trong ánh sáng chiều tà nhập nhoạng lờ mờ những dáng người đang kéo gỗ dựng cột.
Ăn cơm xong thì trờ đã tối, mặc dù ngày mai đã là ngày động thổ, cha chàng vẫn cần phải nghỉ ngơi sau một ngày đã quá bận rộn mệt mỏi, nên Lã Bất Vi một mình cứ ra ra vào vào để tính toán trước công việc. Khi đi ngang qua một đống gỗ, chợt nhìn thấy một bụi cỏ đang nằm ở giữa trông rất vướng mắt, sợ sẽ ảnh hưởng đến việc xâu dựng của ngày mai, Lã Bất Vi liền cúi xuống giật bụi cỏ lên. Đúng lúc đó, Lã Bất Vi nhìn thấy lờ mờ hình dáng của một người con gái đứng bật dậy, sau đó, vẫn cái hình dáng lờ mờ ấy lại quỳ thụp xuống, giọng khản đặc cầu xin: “Công tử, xin hãy cứu tôi!”. Không biết là bởi lạnh hay đói mà cái hình hài cứ không ngớt run lên bần bật.
Lã Bất Vi cầm cây đèn dầu ra, cái đầu tiên đập vào mắt chàng là vết dấu đỏ rõ nét giữa hai hàng lông mày của cô gái. Tim chàng thót lại: đây chẳng phải là cô gái nô lệ bị buộc cỏ đem bán sáng nay sao? Tại sao cô ta lại đến đây lúc nửa đêm?
Chàng đưa cô gái vào trong nhà kho chứa lương thực và đồ đạc linh tinh hỏi han sự tình. Cô gái nước mắt lã chã kể cho Lã Bất Vi hay, gia đình cô vốn là bồi thần cảu đại phu nước Tấn, cha cô là Hoàng Phủ Hồ, cô là Hoàng Phủ Kiều và một người anh trai là Hoàng Phủ Thượng Nghĩa. Mùa hè năm ngoái, Vệ Nguyên Quân dẫn mười vạn đại quân tiến công nước Tấn, khi đi qua nhà cô đã giết chết cha cô và bắt cô cùng người anh trai. Nửa đường anh trai cô tháo chạy được, còn cô bị đem về, tặng cho một vị tướng quân lập nhiều công trạng để làm nô lệ. Người này rất ghét kẻ nô lệ suốt ngày khóc lóc vì cảnh nhà tan cửa nát nên ngày hôm sau đã đem bán cô lấy mười dật vàng cho một thương nhân giàu có trong thành tên là Phàn Bình. Cha của Phàn Bình mắc bạo bệnh mà chết, muốn được mai táng cùng hai người con trai và hai người con gái, Hoàng Phủ Kiều chính là một trong hai người con gái được mua về để đem chôn cùng. Hoàng Phủ Kiều không cam tâm vùi chôn sinh mạng tuổi trẻ của mình vĩnh viễn hầu hạ cái xác khô của kẻ có tiền kia, và thế là nhân lúc tên gia đinh giữ cô đi vệ sinh, cô đã bỏ trốn ra ngoài.
Lã Bất Vi an ủi Hoàng Phủ Kiều đôi câu, đoạn lẻn vào nhà mang một bát cơm ra, để Hoàng Phủ Kiều ăn một chút cho ấm bụng rồi mới bàn cách giải cứu cô ra sao. Chàng thấy cô gái ăn ngấu nghiến. Thân hình mảnh mai của cô dưới ánh đèn dầu, in lên trên bức tường. Hoàng Phủ Kiều có lẽ bị nhịn đói rất lâu rồi nên chả mấy chốc, thức ăn đã hết sạch.
Cô gái ngước đôi mắt lấp lánh, ánh mắt ấm áp khẽ nói: “Xin hỏi, vị đại ca tên họ là gì?”
Lã Bất Vi nói tên mình cho Hoàng Phủ Kiều.
Hoàng Phủ Kiều liền đứng dậy cáo từ: “Ơn sâu của Lã công tử, kẻ hèn mọn này sẽ mãi mãi khắc lòng tạc dạ, sau này có dịp, nhất định sẽ báo đáp!”
Lã Bất Vi hỏi: “Hoàng Phủ cô nương định đi đâu bây giờ?”
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Tôi không thể làm phiền gây liên luỵ đến công tử nữa. Tôi phải đi tìm anh trai của tôi, hai anh em gặp nhau sẽ báo thù cho cha tôi!”
Lã Bất Vi nói: “Sau khi cô bỏ trốn, nhà Phàn Bình quyết không bỏ qua đâu, nếu chúng không báo quan dán cáo thị thì cũng sẽ sai người đi bắt. Cô một thân con gái yếu ớt thế này, lại đang là kẻ mang tội, e là còn chưa tìm được anh trai thì đã bị bắt rồi!”
Hoàng Phủ Kiều đáp: “Tôi đã sa vào bước đường cùng rồi, cũng đành phải vậy!”
Lã Bất Vi nói: “Cứ htử nghĩ kỹ xem, không lẽ hết cách rồi sao?”
Hoàng Phủ Kiều nói: “Bây giờ chỉ còn cách lấy mười dật vàng đến nhà họ Phan chuộc tôi thì mới yên chuyện, đổi được tự do cho tôi. Nhưng mà…”
Lã Bất Vi nói: “Hoàng Phủ cô nương, cô cứ tạm lánh trong nhà kho này đã, đợi tôi suy nghĩ thêm, ngày mai ta bàn tiếp”.
Hoàng Phủ Kiều cảm động dập đầu cảm tạ rồi nép mình nơi góc tường đợi ngày mai.
Ánh trăng sáng soi tỏ Lã Bất Vi đang trằn trọc trên giường. Cứ nghĩ đến cô gái Hoàng Phủ Kiều đang nằm trong nhà kho kia, người đã khiến chàng hành động như một bậc anh hùng trượng nghĩa sẵn sàng ra tay cứu giúp kẻ gặp nguy khốn là lòng chàng lại dậy lên một cảm giác tự hào. Chàng thậm chí còn tưởng tượng ra viễn cảnh tươi đẹp sau khi Hoàng Phủ Kiều đã được chàng cứu, khi ấy có thể nàng sẽ được tự do không một chút sợ sệt đi khắp bốn phương để tìm anh trai mình, cũng có thể sẽ gửi gắm đời mình cho chính chàng để cùng chàng kết tóc xe tơ, mà cũng có thể nàng sẽ trở thành thê thiếp cho một bậc thương gia và mang vàng bạc tới trứơc cửa nhà chàng xin cảm tạ… Nhưng, khi cái viễn cảnh về một hạnh phúc xa xôi làm rung động lòng người ấy vỡ tan thì Lã Bất Vi lòng đầy lo lắng khi phải đối mặt trước câu hỏi tìm đâu cho được mười dật vàng. Chính chàng cũng biết, ngoài số tiền dùng để xây điện rước thần ra thì nhà chàng gần như không còn tiền nữa. Cha chàng ngày nào cũng run rẩy sờ soạng mười dật vàng giấu trong chiếc rương nhỏ, đây là món tiền dàng dụm cuối cùng phòng lúc ông cụ trăm tuổi. Cha chàng không thể hào phóng mở hầu bao chỉ để giải cứu một cô gái nô lệ cho chàng, thậm chí ông cụ hẳn còn cho rằng hành động của chàng là to gan và hoang đường. Lã Bất Vi nghĩ đến đôi ba người họ hàng nghèo của mình, nghĩ đến sư phụ Bá Hạ nghĩ đến đôi ba người anh em làm trong cửa hàng tơ lụa mà chàng mới quen…
Mặt trời đỏ ối nhô lên từ phương đông, tiếng rìu đẽo gỗ từ nhà họ Tống bên cạnh vang lên nghe tựa một bản nhạc. Lã Bất Vi vội vã bật dậy đến nhà kho, Hoàng Phủ Kiều vẫn đang ngủ say sưa. Chàng lấy vài manh áo khẽ đắp lên người cô.
Lã Bất Vi trầm tư nghĩ ngợi hồi lâu trong nhà kho. Chàng không hay biết giờ đây vừng đông nhô cao đang toả những tia nắng chói chang và phủ sáng lấp lánh lên số phận của Hoàng Phủ Kiều…
Lã Bất Vi là người đầu tiên đến cửa hiệu tơ lụa, chàng vừa vẩy nước quét nhà vừa quan sát mọi người đang lục đục kéo đến. Lã Bất Vi để mắt tìm Vương Khuê. Mới gặp chàng đã có cảm giác đây là con người có thể gửi gắm tâm sự được. Đợi Vương Khuê đến, chàng sẽ đem chuyện mượn tiền nói với anh ta xem sao. Rất nhiều người đã tụ tập trò chuyện trước quầy mà vẫn chưa thấy bóng Vương Khuê. Lã Bất Vi đang nghĩ không biết có nên đợi nữa không hay đi tìm chỗ khác. Đúng lúc chàng đang do dự, chợt một bà lão trông rất chậm chạp cầm theo một mảnh gấm màu nho tới nói: ‘Hôm qua tôi mua mười thước gấm ở đây, về nhà thử đo lại trước khi đem may áo thì thấy thiếu một thước, mong anh bù lại cho tôi”. Lã Bất Vi hỏi bà lão rằng bà mua gấm do ai bán, bà lão nhìn quanh rồi nói: “Là cái anh đứng sát anh đấy, mắt to, trông rất nhanh nhẹn. Sao hôm nay không thấy anh ta nhỉ?”
Lã Bất Vi biết đó là Vương Khuê. Chàng lại nói: “Quả thực có việc này sao?”
Bà lão thề thốt nói: “Tôi ngần này tuổi đầu mà lại có thể đi lừa gạt vì một thước gấm hay sao?”
Lã Bất Vi nghĩ, thấy lời bà lão cũng có lý, lại nhìn đôi mắt hiền hậu của bà, quả không giống với loại người đi lừa bịp. Chàng liền giữ lại mảnh gấm màu nho trong tay bà lão rồi đo lại đầy đủ mười thước mới đưa cho bà.
Bà lão vừa đi thì Vương Khuê miệng thở hổn hển chạy đến. Lã Bất Vi kéo anh ta qua một bên, hạ giọng hỏi: “Sao huynh lại bán gấm thiếu cho người ta?”
Vương Khuê giật thót người, hỏi lại: “Sao đệ biết?” Lã Bất Vi lại nói:
“Nói thật đi, có phải có một bà lão mua mười thước gấm màu nho và huynh đã đo thiếu một thước không?”
Vương Khuê bất đắc dĩ phải nhận: “Đúng vậy?”
Lã Bất Vi đưa lại mảnh gấm đã gấp lại cho Vương Khuê xem, Vương Khuê vội hỏi với giọng hỏi lo lắng: “Thế đệ đã nói cho ông chủ chưa?”
Lã Bất Vi lắc đầu. Vương Khuê vỗ vai chàng nói thế mới là tình nghĩa huynh đệ, mời chàng buổi trưa đi uống rượu. Lã Bất Vi quả thực đang muốn nói với Vương Khuê mượn tạm mười dật vàng, nhưng chàng lại nghĩ, đem chuyện này ra nói khi mình vừa bắt “thóp” được bạn thì cứ như là chàng lợi dụng bạn vậy. Lã Bất Vi im lặng hồi lâu, đắn đo không biết phải mở miệng ra sao với Vương Khuê. Cứ mấy lần định nói, rồi lại không thốt nên lời. Sau cùng, chàng quyết định đi vay tiền ở chỗ khác.
Người làm ở hiệu tơ lụa luân phiên nhau đi ăn cơm trưa. Lã Bất Vi đang định đi ra thì Vương Khuê kéo chàng bắt đi uống rượu, Lã Bất Vi nói mình có việc phải đi. Vương Khuê nói uống với nhau đôi ba chén đâu mất nhiều thời gian, uống xong Lã Bất Vi đi cũng chưa muộn.
Lã Bất Vi lần đầu tiên được đến tiệm ăn ngào ngạt hương vị các món ăn như thế này. Chàng không hiểu sao cứ có cảm giác hơi xa hoa. Vương Khuê khoản đãi chàng rất thịnh tình. Anh ta ra sức nài Lã Bất Vi uống thoải mái, còn nói đây là loại rượu ngon hảo hạng. Vương Khuê uống mặt đỏ tía tai, tâm sự rất cởi mở với Lã Bất Vi rằng, đã là buôn bán thì phải có thủ đoạn để kiếm lợi cho mình. Bán lụa mỗi lần chỉ cần đo thiếu đôi ba tấc thì dần dần cũng được một món lớn. Lã Bất Viừa nghe vừa thầm nghĩ: “Quả đúng như người ta vẫn nói, vi thương bất gian bất vi thương”.
Vương Khuê thao thao một mạch về kinh nghiệm buôn bán của anh ta rồi hỏi Lã Bất Vi hôm nay dường như có tâm sự gì đang lo lắng. Lã Bất Vi thở dài, Vương Khuê sa sầm nét mặt nói: “Lã Bất Vi, huynh đã coi đệ như bạn tâm giao, có chuyện gì nếu đệ không cho huynh biết, thì chứng tỏ đệ không thật lòng, đệ mau nói ra đi, nếu huynh không ra tay giúp đỡ thì huynh không phải kẻ trượng nghĩa”. Lã Bất Vi đành kể lại cho Vương Khuê chuyện chàng muốn cứu Hoàng Phủ Kiều nhưng đang lực bất tòng tâm.
Vương Khuê nghe xong, chân thành nói: “Ai da, đệ đã mắc vào chuyện hồng nhan, việc này huynh có thể giúp”.
Vương Khuê nói đoạn rảo bước về nhà mang đến cho mười dật vàng, nói với Lã Bất Vi: “Khi nào có trả hết cũng được, nếu không có thì trả dần ít một, hà tất phải bận tâm!”
Lã Bất Vi lao như bay về nhà, chạy thẳng đến nhà kho, định gọi Hoàng Phủ Kiều cùng chàng đến nhà Phàn Bình giao tiền chuộc thân. Nhưng chàng tìm khắp nơi trong nhà kho mà không thấy bóng Hoàng Phủ Kiều. Lã Bất Vi biết chuyện này không tiện dò hỏi cha chàng nên quyết định một mình mang tiền chuộc đến phủ họ Phàn, sau đó sẽ tìm Hoàng Phủ Kiều.
Phàn phủ chìm trong không khí tang thương, Lã Bất Vi gặp Phàn Bình nói: “Có một nô lệ tên là Hoàng Phủ Kiều bỏ trốn, nhờ tôi đem mười dật vàng chuộc thân trao cho đại nhân”. Phàn Bình vốn đang sai người đi tìm Hoàng Phủ Kiều mà chưa thấy tăm hơi gì, nay nghe người thay cô ta mang tiền chuộc đến, nghĩ rằng mua đâu chả được một nô lệ khác đem mai táng cùng cha nên nhận lấy mườu dật vàng của Lã Bất Vi và trao lại cho chàng tờ khế ước bán thân của Hoàng Phủ Kiều viết trên tấm trúc.
Lã Bất Vi trở về nhà lúc trời nhập nhoạng tối, cứ nhìn đăm đăm vào cánh cửa nhà kho trầm tư suy nghĩ: “Hoàng Phủ Kiều có thể đi đâu được cơ chứ?”
Cha Lã Bất Vi đang chỉ bảo đám thợ xây điện rước thần, thấy Lã Bất Vi cứ thẫn thờ nhìn vào nhà kho liền gọi chàng lại dặn dò: “Bất Vi, sau này nhà ta sẽ có các vị thần bảo vệ. Sáng nay, cha đã phát hiện một kẻ nô lệ bỏ trốn trong nhà kho, cha đã đuổi đi rồi!”
Lã Bất Vi vờ như không để ý lơ đãng hỏi lại: “Không biết cô ta đi đâu nhỉ?”
Lã Hâm nói: “Ai mà biết được”.
Lúc trưa nay khi về đến nhà, Lã Bất Vi để ý thấy trước cửa nhà họ Tống có mấy cỗ xe trông rất sang trọng với những con tuấn mã phủ đệm rực rỡ, lại còn có cả một đội kỵ binh oai vệ. Chàng dò hỏi mới biết, thì ra điện rước thần của nhà họ Tống xây rất đẹp, có người đã bẩm báo với Vệ Nguyên Quân, Vệ Nguyên Quân rất khen ngợi, họm nay ngự giá đến Tống gia ngự lãm ban thưởng.
Lúc này Lã Bất Vi mới để ý, khoảng đất phía Tây Bắc Tống gia đã được dựng một toà lầu rường cột chạm trổ sơn son thiếp vàng cao vút tới tận trời xanh.
Lã Bất Vi chưa từng được thấy long nhan Vệ Nguyên Quân nên đứng nấp sau cánh cửa nhà chờ đợi. Một lát sau, chàng nghe thấy tiếng nhạc vang lên rộn rã, rồi tiếng hô “vạn tuế” rền vang. Lã Bất Vi nghĩ: “Có lẽ Quốc vương chuẩn bị hồi cung”. Chàng liền thò đầu ra nhìn về phía cổng nhà Tống gia. Ngay lúc ấy, chàng chỉ kịp nhìn thấy một người chừng tuổi trung niên đầu đội vương miện đính chuỗi ngọc, tư thế uy phong bước ra.
Lã Bất Vi đoán chừng, đây hẳn là Vệ Nguyên Quân.
Chuỗi ngọc đính trên vương miện khiến Lã Bất Vi kông nhìn rõ mặt Vệ Nguyên Quân. Mũ mạo rữc rỡ của quân vương được gọi là “diên”, vốn là chiếc mũ hình ống tròn được cách điệu. “Diên” trước cao sau thấp, hơi nghiêng về phía trước thể hiện cái tư thế của bậc quân vương đứng từ trên cao mà nhìn xuống thiên hạ. Bên ngoài quan diên là màu đen, bên trong màu hồng ngọc. Phần trước của diên được trang điểm bởi những dây tua mảnh màu sắc sặc sỡ được đính bởi những viên ngọc trân châu lóng lánh, gọi là “chuỗi ngọc”. Thiên tử có mười hai chuỗi ngọc, mỗi chuỗi có mười hai viên ngọc, tổng cộng là một trăm bốn bốn viên. Đây là mũ mạo từ thời Châu Thiên tử quen đội. Rồi lễ nhạc bị băng hoại nhiều nhưng các bậc quân vương vẫn cứ mô phỏng kiểu mũ ấy, có khác chăng chỉ là số lượng những viên ngọc. Những viên ngọc rực rỡ sắc màu buông phía trước diên ấy không chỉ là lối phục sức của bậc hào hoa mà còn thể hiện cho sắc thái thần bí và vẻ tôn nghiêm của bậc quân vương. Khi tiếp kiến các hạ thần, quốc vương có thể quan sát thần thái của họ qua những khe hở giữa các chuỗi ngọc nhưng kẻ hạ thần thì không thể nhìn rõ thái độ của nhà vua.
Khi chiếc mũ miện đính các chuỗi ngọc lúc lắc của Vệ Nguyên Quân cùng đoàn vệ binh rầm rộ đã khuất nơi cuối phố, Lã Bất Vi run lên thầm nghĩ: “Tiền bạc có thể đem lại cho con người ta thật nhiều thứ!”
Chẳng mấy chốc một tháng vui vẻ ở cửa hiện tơ lụa đã trôi qua, Lã Bất Vi lại phải quay trở về chỗ đại phu Vệ Hoành tiếp tục làm môn khách. Chàng hoàn toàn không ngờ rằng, chàng bị cấm cửa. Môn dịch của Vệ Hoành lạnh lùng cho chàng hay, Vê đại phu nói chàng đã đánh ngựa trước cửa phủ Tống Kỳ làm kinh động phủ nội, hành vi thất lễ, nếu chàng tiếp tục làm môn khách ở đây sẽ làm tổn hại đến danh tiếng của Vệ đại phu, nay chàng hãy tìm nơi chốn khác.
Lã Bất Vi đâu ngờ cảnh ngộ u ám này của đời mình, lảo đảo đi về nhà. Cái tin này khiến Lã Hâm vô cùng đau đớn, nước mắt cứ thế giàn giụa trên gương mặt in hằn bao sóng gió cuộc đời của ông.
Lã Bất Vi an ủi cha: Cha à, đừng đau lòng nữa, trời đã cho con sinh mạng ắt chẳng bạc đãi con. Vệ Hoành từ chúng ta nhưng đâu thể tuyệt đường của cha con ta. Muốn làm bồi thần môn khách mong hưởng bổng lộc chứ không vì tiền bạc ở cái thành Hàm Dương rộng lớn này thì ông trời quyết không th6ẻ tuyệt đường của con người ta!
Ánh trăng sáng và bóng cây rợp bao trùm đình viện nơi Lã Bất Vi đang ngồi suy ngẫm day dứt. Những sự việc xảy ra trong một tháng nay mang lại cho chàng biết bao cảm xúc. Đánh ngựa làm kinh động ư, tại sao không phạt chàng tiền công một tháng thôi? Hay là tại bởi vì Tống gia có tiền, có thế, kết giao với các bậc quyền quý, đến Vệ Hoành đại phu và Châu Bác đều đến Tống gia ăn cơm chúc thọ; Vệ Nguyên Quân hà tất lại ngự giá đến Tống gia, làm rạng danh tổ tiên, được hưởng lộc triều đình, đây chẳng phải là vì Tống gia có tiền nên mới xây điện rước thần mái cao thân lượn, khắc phượng chạm rồng, sơn dầu dát bạc đấy sao! Lã gia nhà ta nếu lưng dắt vạn quan thì cũng có thể xâu được điện rước thần mang màu sắc hoàng gia như thế, Vệ Nguyên Quân khi ấy lại cũng sẽ chẳng ngự giá đến Lã gia sao! Hoàng Phủ Kiều đi về đâu không rõ, sao chẳng thấy chút tăm hơi? Hay nàng vẫn mang nỗi xấu hổ trong lòng, nếu ta cũng giàu có như Tống gia thì đừng nói là mười dật vàng, đến một trăm dật vàng cũng dễ như trở bàn tay, cũng sẽ chẳng đến nỗi bỏ lỡ thời cơ mà dễ dàng kết giao được với Hoàng Phủ Kiều! Tiền bạc có thể làm cho con người ta được tôn quý, hiển vinh, tiền bạc có thể mua được tước vị, tiếng tăm, tiền bạc có thể trải ra con đường tiến thân đầy những gấm hoa dẫu cho con người ta đang ở trong cũng lầy đen tối… Người khác, trước là mưu cầu quan chức, tước vị, sau dựa vào quan tước để tranh điền ấp, bổng lộc, rồi tích tụ tiền của, giàu có vang danh. Ta lại muốn đi một con đường ngược lại, làm kẻ buôn bán, tích luỹ bạc tiền, sau đó mới tranh quan đoạt tước, phong hầu bái tướng.
Hoài bão về tiền đồ mà chàng tự vẽ nên khiến cho Lã Bất Vi háo hức đến không ngủ được. Sáng sớm hôm sau, Lã Bất Vi điềm tĩnh nói với cha rằng hôm nay chàng rỗi rãi nên muốn đi thăm sư phụ Bá Hạ. Chàng muốn tạm thời không để người cha già đang rất khổ tâm lại thêm một lần nữa phải nhọc lòng suy nghĩ bởi những toan tính được mất chỉ vì những ý tưởng còn rất mơ hồ, mung lung của chàng. Lắng nghe một câu từ miệng người quân tử hơn cả đọc sách cả mười năm. Lã Bất Vi vừa đi vừa phỏng đoán không biết Bá Hạ tiên sinh sẽ tỏ thái độ ra sao trước sự lựa chọn của chàng.
Đã một tháng Lã Bất Vi mới lại đặt chân đến chốn này, gia cảnh Bá Hạ tiên sinh vẫn vậy, nhà nhỏ dậu thưa, bụi gai che cửa sổ. Tất cả cảnh vật nơi đây đều mang lại cho Lã Bất Vi một cảm giác rất đỗi thân quen. Thấy chàng đến, Bá Hạ mừng rỡ ra đón. Rồi, một bình trà đặc, hai thầy trò ngồi trên đất, Lã Bất Vi rủ rỉ tâm sự với thầy về ý tưởng từ bỏ con đường mưu cầu quan tước để dấn thân vào chốn buôn bán, thương nhân.
Bá Hạ chăm chú nghe, nghe xong, ông trầm ngâm hồi lâu rồi nói: “Bất Vi, ta rất khâm phục cốt cách và hoài bão biết nhìn xa trông rộng của con”.
Lã Bất Vi vội vàng đứng dậy, khẽ cúi người lo lắng nói: “Thầy nói vậy, con quả xấu hổ vô cùng”.
Bá Hạ vẩy tay ra hiệu cho Lã Bất Vi ngồi xuống, rồi cất giọng chân tình nói: “Bất Vi, đừng vì lễ nghi khách khí thầy trò. Suy nghĩ của con quả thực là cờ cao một nước hơn người, hợp thời thuận thế. Con cũng biết Khổng Khâu tiên sinh vốn là quan đại thần nước Lỗ từ thời hơn hai trăm năm về trước, trước đây ta vô cùng bái phục văn chương đạo đức của ông ta. Đặc biệt là khi nghiền ngẫm tập “Luận ngữ”, mỗi câu mỗi chữ trong đó đều soi rạng thứ ánh sáng hiền triết, đều là những danh ngôn chí lý. Nhưng bỗng gần đây, khi đọc những trước tác cảu Khổng tiên sinh, ngẫm nghĩ suy tư thì tình cảm sùng bái của ta dành cho ông ấy đã bị dao động, nói cách khác, ta nhận thấy, không phải tất cả những lời của Khổng tiên sinh đều là những chân lý bất di bất dịch. Ví như, Khổng Tử nói, bậc quân tử trượng nghĩa còn kẻ tiểu nhân hám lợi; bậc quân tử lo việc đạo nghĩa chứ không vì bần hàn mà bận tâm. Ta không cho là như vậy. Cớ sao có thể nói mưu cầu lợi ích vật chất, tránh cảnh cơ cực bần cùng tất thảy đều là bụng dạ, suy nghĩ của kẻ tiểu nhân? Không có bạc tiền, nghèo hèn khốn khó mà nói đến đạo, đến nghĩa há chẳng phải viễn vông sao? Ta có vừa được nghe một câu nói của Quản Trọng, vốn từng làm đến chức thượng khanh cho Tề Hoàn Công, rằng: “Gạo đầy kho mới hiểu lễ tiết, áo ấm thân mới thấu nhục vinh”. Đó quả là một lời răn dạy sâu sắc mà mới mẻ, người d6an chỉ có thể hiểu được lễ tiết là gì khi họ đã được ăn no, chỉ có thể biết cái gì là vinh, cái gì là nhục khi họ đã được mặc ấm. Cho nên quân tử phong lưu thì dễ lòng hành đức, tiểu nhân no đủ thì dốc sức dốc công. Bậc quân tử khi đã rương cao hòm đầy thì có thể thi ân hành đức, còn kẻ bình dân khi đã có chút của dư thừa thì có thể thêm sức cần lao. Cũng giống như nơi nước sâu mới có cá lội, chốn núi cao mới có thú về, có giàu sang mới tính được chuyện nhân nghĩa. Kẻ giàu có tiền có thế, dang tiếng càng bay xa, mất tiền mất thế, môn khách cũng sẽ đều quay gót bỏ đi, bởi vậy đã có người nói rằng: thiên hạ nô nức, khi còn lợi, thiên hạ quạnh hiu, lợi chẳng còn. Ôi, bậc quân vương nghìn cỗ xe, kẻ chư hầu vạn mái nhà, bậc khanh tướng trăm phòng thất chẳng vẫn sợ bần hàn sao, trách chi được kẻ thất phu với đôi gian nhà chật?”
Từng lời của Bá Hạ thâm thuý diệu kỳ, khiến Lã Bất Vi mở mắt bao điều, chàng vội nói: “Những lời rao giảng của tiên sinh khiến cho đệ tử thấy được những việc chưa từng thấy, nghe được những điều chưa từng nghe.Xin tiên sinh chậm rãi từng lời để đệ tử chắp bút ghi lại, treo nơi đầu giường, bên cạnh án thư mà răn dạy bản thân”.
Bá Hạ cười lớn mà rằng: “Ấy, hà tất phải câu nệ như vậy. Hôm nay con tới, ta rất vui mừng; Con muốn thay đổi sự lựa chọn về sự nghiệp của mình, quả là điều trọng đại. Thế nên ta mới góp nhặt đôi câu, nhiều lời một chút, vị tất đã khúc chiết chỉn chu, có chăng chỉ là bàn bạc cùng con để con tham khảo”.
Lã Bất Vi vô cùng thành tâm nói: “Không, từng câu từng lời của tiên sinh đều là lời khuyên quý báu, khiến cho tâm tư mơ hồ cảu con như được rạng soi”.
Bá Hạ nói tiếp: “Nếu quả thực như vậy, thì thầy sẽ lại có đôi lời dông dài cùng con. Tử Hạ là một trong những đệ tử xuất sắc nhất trong số bảy hai đệ tử của Khổng Tử. Tử Hạ có một học trò rất nổi tiếng, tên là Lý Khôi.
Nguỵ Vương Nguỵ Văn Hầu chiêu mộ nhân tài, đã phong cho Lý Khôi làm tể tướng. Trong thời gian chấp chính, Lý Khôi đã thực thi biện pháp tấc đất tấc vàng, phá bỏ ranh giới canh điền, phát triển điền canh thuỷ lợi, thậm chí còn tính toán giúp Nguỵ Văn Hầu. Có một lần Lý Khôi đã tính toán cho Nguỵ Vương xem về một mảnh đất vuông vức rộng trăm lý, có chín vạn hecta ruộng, nếu trừ đi diện tích rừng núi, hà trạch, thành ấp, làng mạc thì thực tế diện tích canh tác chỉ còn được sáu vạn mẫu. Nếu lúc thuận thời, cần cù canh tác, mỗi mẫu tăng sản ba đấu thì sáu vạn hecta cũng tăng được một trăm tám mươi thạch. Nguỵ Vương vốn là bậc hiền minh rất nghe theo lời Lý Khôi, tiếp thu kế sách hoa màu: quốc cường dân phú của ông, Nguỵ quốc nhờ vậy nhanh chóng cường thịnh. Hay chuyện Sở Vương tin dùng Ngô Khởi, Tần Hiếu Vương tín nhiệm Thương Ương, những nước chư hầu này đã thực thi biến pháp, tích của tụ tài, trở nên cường thịnh, từng bước hoàn thành bá nghiệp. Thời thay đổi, sách lược trị quốc của các bậc quân vương cũng phải thay đổi, thế gọi là thức thời vậy. Thời thượng cổ thiên vị đạo đức, trung cổ xem trọng trí mưu, cận kim phát huy vũ lực và đương thời trọng thị kinh tế. Thời nhà Thuấn, có bộ lạc Miêu không chịu khuất phục, tướng Vũ xin chinh phạt, Thuấn nói: làm vậy không được, chúng ta không dùng đức trị người mà nay lại dùng lực, há chẳng phải bất đạo hay sao? Suốt ba năm, vừa thuyết giáo, vừa răn đe, người Miêu mới khuất phục. Bất Vi, con xem, Thuấn phái quân tay cầm rìu cầm khiên nhưng lại cùng người Miêu ca hát, thế người Miêu mới khuất phục, thật diệu kỳ biết bao, dùng đạo cảm hoá lòng người thời ấy quả có sức mạnh vô biên. Đến thời cận đại thì sao? Có một lần, nước Tề toan tiến công nước Lỗ, Lỗ Vương liền phái Tử Cống - một môn sinh xuất sắc của Khổng Tử đi thuyết giáo, hòng dùng đạo đức mà cảm hoá nước Tề bãi binh hoà hiếu. Tử Cống lý lẽ sắc sảo tới nước Tề diễn thuyết một hồi, người nước Tề nghe xong liền cười mà rằng: “Tử Cống tiên sinh, không phải tiên sinh nói lời vô lý, nhưng cái chúng ta cần là đất đai chứ không phải những lời căn vẻ bùi tai”. Và, quân đội nước Tề tấn công nước Lỗ, khuyếch trương biên giới đến cánh cửa thành nước Tề có năm trăm mét. Bất Vi, thử so sánh mà xem, thời thượng cổ, dùng đạo đức đi giáo hoá đã hàng phục được cả một bộ lạc, đến thời cận đại, lại dùng đạo đức đi thuyết giáo thì suýt dẫn đến hoạ diệt vong cho cả một quốc gia! Thời thế nay, chư hầu đua tiếng, mưu đồ thôn tính đối phương, độc dựng cơ hồ, theo ta, gốc rễ là kinh tế hưng thịnh, nước phú quân mạnh”.
Sau một hồi thao thao bất tuyệt, Bá Hạ ngừng lời, chậm rãi nhấp trà.
Lã Bất Vi nói: “Trước kia nghe kẻ bình dân quê mùa nói: Lời châu ngọc không kén chọn sang hèn; vẫn cho là lời phi lý. Giờ mới thấy, lời kẻ tiện nhân cũng đâu kém sâu xa”. “Chính vì vậy nên ta ủng hộ hoài bão của con, Bất Vi ạ! Hãy can đảm lên!”
“Có sự khích lệ của thầy, con thấy mình vững vàng biết bao!”. Lúc chia tay, Bá Hạ tháo chiếc vòng ngọc khắc rồng chạm phượng đang đeo trên mình trao cho Bất Vi, chân tình nói: “Rồi đây con đặt chân vào chốn thương trường. đi Nam về Bắc, thầy trò thật chẳng dễ gặp mặt nhau, con hãy giữ miếng ngọc bội này bên mình nhé! Có thể nó sẽ giúp con nhớ đến ta!”
Lã Bất Vi lưu luyến từ biệt Bá Hạ. Trên đường trở về nhà, chàng đã biết nên thổ lộ với cha chàng ra sao về những toan tính của mình.
Về tới nhà, chàng thấy cha đang một mình với chén rượu, thẫn thờ. Bất Vi không biết cha đang uống rượu mừng vì điện rước thần đã hoàn tất, hay đang uống rượu giải sầu vì chuyện chàng đã bị khước từ cho làm môn khách ở nhà Vệ Hoành. Bất Vi nghĩ, bất luận là cha đang uống rượu gì thì bây giờ chàng vẫn phải nói cho ông hay về ý tưởng của chàng.
Nghĩ vậy, Bất Vi ngồi xuống giường, rót đầy chén rượu cho cha. Rồi chàng kể hết một mạch cho cha những diễn biến trong lòng cháng một tháng nay, ý nghĩ của Bá Hạ tiên sinh và ý tưởng rời bỏ con đường mưu cầu tước vị, dấn thân vào chốn thương trường của mình.
Lã Bất Vi nói xong, nhìn cha không chớp mắt.
Thoạt tiên chàng thấy cha tỏ ra vô cùng kinh ngạc, sau đó lại hết sức bối rối. Chén rượu trong tay ông nghiêng đi khiến rượu tràn xuống. Nhưng rồi Lã Hâm cầm chén rượu ngay lại, đôi mắt ưu tư nhìn Bất Vi nói: “Những lời của con cũng có đạo lý. Nhưng việc này có can hệ đến tương lai của đời con và sự hưng suy của Lã gia, bởi vậy hãy để cha suy nghĩ rồi sẽ trả lời con”.
Suốt đêm, Lã Bất Vi cảm thấy mình như rơi vào trạng thái mơ màng, mung lung. Sớm hôm sau tỉnh dậy, đầu tiên đập vào mắt chàng là một thỏi vàng sáng chói được đặt nơi đầu giường. Lòng chàng rộn lên vì sung sướng: cha chàng đã đồng ý. Cha chàng bước tới, đặt tay nắm chặt vai Bất Vi nói: “Đây là số tiền mà ta và mẹ con dành dụm để lo chuyện hậu sự, con hãy dùng nó!”
Lã Bất Vi cầm lấy thỏi vàng, trông nó tựa chiếc khánh đá. Thỏi vàng ánh lên muôn ngàn tia sáng lấp lánh, như làm hiển hiện trước mặt chàng một không gian rực rỡ tựa gấm hoa. Chàng nhủ thầm: “Có tiền rồi, trước tiên ta phải trả mười dật vàng cho Vương Khuê”.

°

*

Một kẻ tha hương lòng mang hy vọng làm giàu đang xuôi thuyền trở lại cố hương.
Kẻ đó chính là Lã Bất Vi.
Chàng đã đem đổi thỏi vàng thành một nghìn tiền xu tới vùng sơn cước nước Lỗ mua trái đào nước, mua nửa đồng một cân, về Bộc Dương có thể bán được ba đồng, rất có lời lãi. Một thuyền chất đầy những trái đào tươi toả hương thơm ngọt cả lòng người. Lã Bất Vi đang ngược dòng, chỉ còn hai ngày đường nữa là chàng sẽ về tới nhà.
Sông rộng nước lặng, chỉ có tiếng mái chèo hối hả. Ông lão chèo thuyền vừa khua mái chèo vừa khen ngợi Lã Bất Vi, rằng chàng là con nhà giàu có mà chịu thương thịu khó. Lã Bất Vi cay đắng không biết nên khóc hay cười, hỏi ông lão tại sao có thể biết được chàng là con cái nhà có của. Ông lão bảo chàng mặc đồ xa hoa, chỉ riêng đôi ủng chàng đi cũng đáng giá trăm đồng. Lã Bất Vi nói, lão bá tuổi cao mắt kém rồi, đôi ủng này đâu phải đồ quý, chẳng qua cũng chỉ là thứ rách nát tầm thường, có chăng chỉ là màu sắc hoa văn trông vừa mắt chứ chẳng đáng giá là bao.
Lã Bất Vi từ trong khoang ngắm nhìn con thuyền chở hàng của mình đang xuôi mái rẽ sóng trên dòng Bộc Dương. Hai bên bờ sông núi cao trùng điệp, rừng xanh mênh mông. Tình cờ thay có một người con gái xiêm y rực rỡ đang ngắt lá đùa cành. Lã Bất Vi tức cảnh sinh tình, ý thơ dào dạt, cất giọng trầm bổng ngâm bài “Cô gái hái sắn dây”.
Hỡi cô hái rau
Một ngày không gặp
Ba tháng xa nhau
Hỡi cô hái rau
Một ngày không gặp
Ba năm xa nhau
Hỡi cô hái rau
Một ngày không gặp
Mùa thu xa nhau.
Trong giây lát, Lã Bất Vi bỗng chợt nhớ tới Hoàng Phủ Kiều, cô gái nô lệ mà chàng đã từng phải đi mượn bạn số tiền chuộc cô. Giờ đây không biết cô đang lưu lạc phương nào, nương thân nhờ ai, hơi người con gái dễ khiến lòng người xao động! Cái vết dấu đỏ hằn lên giữa hai hàng lông mày như một ký ức khó quên lưu lại trong lòng người. Bắt đầu nghiệp thương nhân từ những trái đào, ta sẽ phải tích tiểu thành đại, kiến tha lâu ắt đầy tổ, rồi tiền bạc ắt sẽ như dòng nước này chảy về Lã Bất Vi ta. Ta phải đi tìm Hoàng Phủ Kiều để thổ lộ lòng ta với người con gái xinh tươi tựa hoa nguyệt này. Dẫu cho không tìm được nàng, ta cũng sẽ phải cưới một người con gái tài sắc vẹn toàn làm vợ, rồi ta sẽ mua thêm một, hai nô thiếp xinh đẹp, lễ phép, dịu dàng làm bầu bạn, cuộc sống ngát hương, phong lưu hạnh phúc.
Hoàng hôn buông xuống bao phủ một màu xanh mênh mang lên núi đồi đen sẫm.
Trời chẳng mấy chốc tối hẳn. Thuyền neo bờ, Lã Bất Vi cùng ông lão chèo thuyền ăn cơm tối trong khoang thuyền. Quãng nửa đêm, tiếng sấm ì ầm chợt vang lên, dội xuống mặt sông. Lã Bất Vi bừng tỉnh, thấy trời đang trút mưa ào ào. Chàng nghiêng tai lắng nghe tiếng nước vỗ mỗi lúc một to, biết rằng mưa đang lúc một dữ dội trong đêm. Trời sáng, Lã Bất Vi cũng chỉ đành ngồi nhìn không chớp mắt vào màn mưa trắng xoá đến tận buổi trưa mà chưa hề có ý dứt. Lã Bất Vi vội giục ông lão chèo thuyền khởi hành nhưng ông lão nhìn dòng nước chảy xiết đục ngầu nói, đỉnh lũ ở thượng nguồn quá mạnh, thuyền không xuôi nổi, Lã Bất Vi lấy hai trái đào từ sọt lên nhìn, đào đã nhũn do bị nóng. Chàng hiểu, nếu nhỡ nhàng ở đây chờ đợi hai ngày thì cả thuyền đào tươi của chàng e là nẫu như cháo mất.
Lòng chàng nóng như lửa đốt, khẩn khoản xin ông lão khởi hành mặc trời mưa. Ông lão cho chàng hay ông chưa bao giờ chèo thuyền giữa lúc nước cuộn dữ dội như thế này, nếu mạo hiểm lên đường thì đừng có nói là đào chứ đến cả hai con người trên thuyền này cũng làm mồi cho hà bá. Sau buổi trưa, mưa to hơn, dòng nước cuộn sóng gầm lên nghe như tiếng trâu rống. Sau một ngày một đêm đợi chờ trong mưa, Lã Bất Vi như đứng trên đống lửa ngồi trên đống than. Chàng muốn lên bờ bán tống bán tháo số đào nhưng hỏi ông lão chèo thuyền mới biết thị trấn gần nhất cũng cách đây đến ba mươi dặm. Đường thì trơn, ngựa khó đi. Hy vọng bán đào của chàng cũng tan như bong bóng.
Lại thêm một ngày trôi qua, sau cơn mưa trời sáng dần, mây tan trời quang. Chàng thấy ông lão chèo thuyền đang trút sạch đống đào nhũn nhoét đầy khoang của chàng xuống sông, nhẹ nhàng thoải mái như đấy là một đống phân thải vậy. Và rồi sau đó con thuyền lướt đi tựa như chiếc lá trôi.
Lã Bất Vi bắt đầu lê những bước chân nặng nề trên mặt đường đầy bùn nước hướng về phía Bộc Dương. Lòng trĩu nặng buồn đau, chàng thấy con đường như dài thêm. Mãi đến lúc chiều tà, Lã Bất Vi mới đến một thị trấn nhỏ có bóng người. Tìm một lữ điếm, ăn một chút lót dạ, chàng hỏi thăm và biết Bộc Dương còn cách đây chừng chín mươi dặm đường, thân thể rã rời, chàng cũng chỉ còn cách trú chân ở đây một đêm, đợi sáng mai lên đường sớm. Chỉ kịp đặt lưng xuống giường, Lã Bất Vi ngủ say một mạch, sáng hôm sau lúc mặt trời đã lên cao ba con sào mới tỉnh giấc. Chàng sờ khắp người, chỉ còn sót lại vài đồng bạc. Bất Vi sợ toát mồ hôi, lấy gì để trả tiền ăn ngủ đây? Chẳng lẽ đào tẩu ư? Chàng khẽ gạt bức mành nhìn ra, chủ tiệm cùng đám gia nhân đang bận rộn làm việc. Giá có đào tẩu mà bị tóm lại thì chắc hết chốn dung thân, cầm chắc bị dẫn lên quan phủ. Đã đến nước này thôi thì đành mặt dạn mày dày mà đi tìm chủ tiệm xin khất nợ.
Chủ tiệm cười khẩy nói, khất nợ ư? Thế ngươi không trả thì ta biết tìm ngươi ở đâu? Chủ tiệm lướt ánh mắt khinh thị nhìn từ đầu xuống chân Lã Bất Vi một lượt bảo, nói không đủ tiền thì lột đôi ủng dưới chân ra mà trả. Lã Bất Vi đành tháo ủng trước con mắt của bao nhiêu kẻ vây quanh, vội vã bước đi, ngậm đắng nuốt cay trước ánh mắt giễu cợt cảu những con người xa lạ.
Lã Bất Vi thất thểu tới bờ sông Bộc Dương, ấp điền nơi chàng sống đã hiện ra trước mắt, chàng cảm thấy hai chân rã rời. Sông Bộc Dương chảy uốn lượn theo thành ấp, vừa là mạch đường thuỷ vận, vừa là nơi người dân trong thành ra giặt giũ tắm rửa. Vào những ngày nóng nực, khắp bờ sông rộn rã tiếng hồ đập quần áo, tấp nập những cánh buồm và râm ran tiếng cười nói. Giờ đây, trước mắt chàng là mấy cô gái má thắm môi hồng, váy dài lướt thướt đang đuổi nhau nô đùa trên bãi cát. Lã Bất Vi sợ người khác trông thấy cái bộ dạng thảm hại của chàng, vội vàng ẩn mình trong đám rau khao tử um tùm bên bờ sông. Chàng cảm thấy hai bàn chân rát như phải bỏng, liền nằm xuống bãi cỏ nhìn lên bầu trời. Lã Bất Vi khẽ ngước đầu lên, trên kia, những đám mây trắng nhẹ nhàng trôi, lúc thì chụm lại, lúc lại tản ra, tựa hồ như cuộc đời phiêu du của con người. Chàng từ chỗ là một môn khách của nhà Vệ Hoành đại phu tiền đồ sáng lạn bỗng chốc trở thành một tay buôn đào đắc ý tiền nhiều để rồi cuối cùng chỉ trong nháy mắt trở thành một kẻ khốn nạn bần cùng gục ngã. Người cha già vì chàng mà dốc cạn hầu bao với bao kỳ vọng về chàng, dõi theo từng bước chàng đi và mong ngày khải hoàn, vậy mà chàng đã làm tiêu tan hy vọng của cha, đã bỏ sông bỏ bể số tiền mà cha mẹ chàng dành dụm, chàng còn phụ những lời răn dạy chí tình của Bá Hạ tiên sinh và trở thành trò cười cho Tống Kỳ, cho đám bè bạn, anh em ở tiệm tơ lụa. Đường đường một đại trượng phu sống nhục nhã với đời chẳng bằng chết đi hay sao. Nghĩ quẩn quanh một hồi, Lã Bất Vi quyết định nhảy xuống sông tự vẫn, đặt dấu chấm hết cho cuộc đời mình - một chàng trai mới mười tám tuổi. Dòng sông êm ả trôi, siêu nhiên thoát tục, rồi linh hồn chàng cũng sẽ dạt trôi nơi chân trời, tìm đến với sự giải thoát và bình yên.
Lã Bất Vi biết lòng mình đã quyết, chàng cố sức lê đôi chân giờ đã rã rời không còn muốn nghe theo sự điều khiển của chàng nữa khó nhọc bước tới bên bờ sông. Đúng vào lúc chàng đang cúi nhìn những gợn sóng lăn tăn và những xoáy nước trên mặt sông để tìm nơi trẫm mình, bỗng chàng nghe thấy có tiếng ai tựa như tiếng chuông ngân đang gọi tên chàng. Bất Vi ngỡ là mình đang mơ. Chàng hướng mắt về phía tiếng gọi, và đập vào mắt chàng là một vết dấu đỏ xinh xắn đến nao lòng. Là Hoàng Phủ Kiều, chính là Hoàng Phủ Kiều, đích xác là Hoàng Phủ Kiều!
Bất Vi nhìn thấy Hoàng Phủ Kiều mặc một chiếc váy mới tinh, hoa văn sặc sỡ, gương mặt nàng hồng hào, tràn trề sức sống, chàng không còn nhận ra đó là cô gái nô lệ hôm nào phải lánh nạn trong kho thóc ở nhà chàng nữa. Lã Bất Vi vội hỏi Hoàng Phủ Kiều về những chuyện đã xảy ra sau khi nàng rời khỏi nhà chàng. Hoàng Phủ Kiều nhìn Bất Vi hồi lâu, ánh mắt như nói bao điều, rồi kể, sau khi rời khỏi nhà chàng, nàng đã đi khắp nơi để tìm anh trai, sau đó, nàng được một người tốt bụng tên là Phùng Quân Úy cứu giúp và nàng đã nhận ông làm nghĩa phụ. Khi Phùng tiên sinh mang mười dật vàng đến nhà Phàn Bình định chuộc thân cho nàng mới được người ta cho hay đã có một người trả tiền chuộc cho Hoàng Phủ Kiều rồi. Nàng đoán người đó hẳn là Lã công tử. Hai ngày trước đây đến nhà chàng hỏi thăm mới hay Lã công tử đã đi buôn bán đào rồi.
Lã Bất Vi xấu hổ kể lại cho Hoàng Phủ Kiều nghe chuyện buôn bán đào của mình, đoạn nói: “Buôn bán đến trắng tay, lòng như lửa đốt, chẳng thà chết đi còn hơn!” Hoàng Phủ Kiều vội nói: “Sao Lã công tử lại nói năng hồ đồ đến vậy! Như thiếp phận gái liễu yếu đào tơ, lâm vào cảnh ngàn cân treo sợi tóc mà vẫn chẳng nghĩ đến cái chết. Buôn bán lỗ lãi là lẽ tự nhiên, đâu có gì là lạ? Công tử đợi ở đây một lát, thiếp đi sẽ quay lại ngay!”
Một lát sau, Hoàng Phủ Kiều ung dung ngồi trên một chiếc xe ngựa lớn quay lại, từ trên xe bước xuống, tay ôm một bộ quần áo với mũ, giày mới tinh trao cho Lã Bất Vi, còn có hai mươi dật vàng, mười dật là trả lại cho chàng tiền chuộc thân của nàng, còn mười dật là chút bù đắp cho số tiền lỗ vì buôn đào lần này của Lã Bất Vi. Lã Bất Vi hỏi: “Nàng mang những thứ này đi, nghĩa phụ của nàng có biết không?” Hoàng Phủ Kiều vô cùng tự hào nói: “Thiếp đã kể cho nghĩa phụ nghe về nhân cách của công tử cùng việc buôn bán rủi ro lần này, nghĩa phụ rất ngưỡng mộ chàng, lại còn chuẩn bị tiệc mời chàng đến nữa!”
Lã Bất Vi vội xua tay nói: “Đâu dán, đâu dám!”
Trước khi chia tay Hoàng Phủ Kiều cho biết nơi nàng đang ở. Lã Bất Vi tháo chiếc vòng ngọc khắc hình rồng bay mà chàng mang bên mình tặng Phủ Kiều. Nhìn theo bóng Hoàng Phủ Kiều cùng chiếc xe ngựa thong dong theo con đường uốn lượn khuất dần, Lã Bất Vi cứ ngỡ ngàng không tin nổi số mệnh con người ta lại có thể đổi thay không ngờ đến vậy.
Lã Bất Vi quần áo chỉnh tề, tay cầm hai mươi dật vàng gặp lại cha trong tư thế ngẩng cao đầu. Lã Hâm nghĩ rằng con trai trận đầu đã thắng lợi, nhẹ nhàng kiếm được nhiều tiền đến vậy nên mừng vui khôn xiết, không ngớt hỏi han. Không muốn để cha phải bận tâm, không an lòng, Bất Vi không đả động đến câu chuyện buôn đào thất bại thảm hại của mình thay vào đó, chàng thêm thắt đôi câu, nào là chàng đã thắng lớn một cách bất ngờ ra sao, nào là chàng đã mã đáo thành công thế nào, những lời chàng nói khiến cho gương mặt người cha rạng ngời niềm hạnh phúc.
Bất Vi cầm mười dật vàng đến hiệu tơ lụa tìm Vương Khuê trả nợ bạn. Vương Khuê hỏi chàng lần này đi buôn đào hẳn là phát tài lớn, Bất Vi lắc đầu kể lại sự tình cho bạn nghe. Vương Khuê hỏi thế sau này chàng định tính toán ra sao, Bất Vi nói chàng cũng chưa nghĩ được gì cả. Vương Khuê động viên Bất Vi đừng nản lòng thối chí, rằng vạn sự khởi đầu nan, và khuyên bạn một cách là mở một cửa hiệu tơ lụa ở gần hiệu này; đầu tiên thì làm ít vốn, thuê một gian cửa hàng, hai người giúp việc, một người thu mua hàng, một người đảm trách việc bán hàng, Bất Vi làm chủ hiệu. Cửa hiệu này bán giá bao nhiêu thì hiệu cảu Bất Vi cũng bán ngần ấy, cầm chắc có lãi mà lại không rủi ro gì. Bất Vi nói có lẽ cũng phải thử xem sao.
Lòng tràn đầy niềm tin, Bất Vi chạy ngược chạy xuôi, lo liệu sắp đặt, và chỉ sau vài ngày, hiệu tơ lụa của chàng đã treo biển đón khách. Mặc dù hai cửa hiệu chẳng khác gì nhau chỉ cách nhau có vài bước chân, cửa hiệu cảu Bất Vi vẫn nhộn nhịp. Vương Khuê còn bí mật giới thiệu khách hàng cho bên cửa hiệu của chàng, giúp cho việc làm ăn của chàng trở nên phát đạt.
Nhưng vài ngày sau, cửa hiệu của Lã Bất Vi bỗng vắng tanh vắng ngắt. Nguyên do là vì cửa hiệu bên kia bán giá rẻ hơn bên chàng. Vương Khuê cho chàng hay, Tống Kỳ thấy chàng ăn nên làm ra nên cố tình ép giá, hòng khiến Bất Vi lâm cảnh lụn bại. Vương Khuê khuyên Bất Vi hãy tính nước cờ khác, bởi lẽ chàng tiền ít vốn mỏng, sẽ không ép giá lại nổi với Tống Kỳ.
Lã Bất Vi đâu dễ nhún nhường, Tống Kỳ muốn ép chàng nhưng sẽ ép không nổi. Làm ăn ở đây khó bề vượt mặt hắn ta thì chàng sẽ đi tứ phương làm ăn, sẽ bán hàng ngay nơi thôn quê chợ làng vậy. Thế là, Bất Vi cùng hai gia nhân vai vác tơ lục, leo lên một gò đất cao, quan sát bốn phía, hễ thấy ai cũng lập tức mời chào, hễ có cơ hội làm ăn là chụp lấy không bỏ sót. Năm ấy, chính Mạnh Kha đã gọi loại hoạt động buôn bán này là “lũng đoạn” và ghi chép lại trong cuốn “Mạch Tử - Công Tôn thiên”. Buôn bán kiểu này lãi ít mà vất vả, quanh năm dầm dãi nắng mưa, chịu sương chịu gió, vậy mà Lã Bất Vi cùng hai gia nhân vẫn kiên trì thức khuya dậy sớm vác lụa trên vai in từng bước chân trên những bờ ruộng dọc ngang khúc khuỷu.