Dịch giả: Cao Việt Dũng
Chương 11

Đã quá hai giờ chiều, thật là khó chịu trong cái nóng thiêu đốt, nhất là ở ngoài trời. Cả hai chúng tôi đều chưa ăn gì – ngoài một cốc bia loãng toẹt – và chúng tôi không phản đối ý kiến đi ăn một cái gì đó tại một chỗ mát mẻ.
 Mặt đường cầu tàu đã trở nên nóng như nung. Những bóng đen cứng ngắc ngả xuống những toà nhà, những toà nhà san sát – những bức tường rất tốn gạch, những cửa sổ màu xanh, những mái nhà xanh lét. Một cái bảng bên ngoài phòng bán vé để giờ tàu chạy. Nhưng các quan chức, đám đông bên ngoài cửa cầu tàu đã tản đi. Còn lại bức tường đá granite trên công trình đổ nát đã được xây dựng lại. Những chiếc lá phượng nhẹ bỗng, mặt trời chiếu thẳng qua đó. Mặt đất gồ lên quanh những chùm cỏ, cây bụi, đầy rác và phân súc vật.
Chúng tôi không đến quầy bar Bigburger của Mahesh. Tôi muốn tránh lời đàm tiếu – Shoba không tán thành quan hệ giữa Yvette và Indar. Thay vào đó chúng tôi đến Tivoli. Quán bar này không xa lắm, và tôi hy vọng thằng hầu Ildephonse của Mahesh không báo cáo lại cho chủ của nó. Nhưng cũng chẳng hề gì, Ildephonse thường đi vắng vào giờ này.
Tivoli là một chỗ mới hoặc khá mới, là một phần của cuộc bùng nổ kinh tế vẫn đang tiếp diễn ở chỗ chúng tôi, thuộc sở hữu của một gia đình đã điều hành một nhà hàng ở thủ đô trước độc lập. Giờ đây, sau mấy năm ở châu Âu, họ trở về thử lại thời vận. Đối với họ đây là một cuộc đầu tư – họ không để lại đồng nào để phòng ngừa hết – và tôi nghĩ họ đang gặp vận. Nhưng tôi không biết về những thói quen châu Âu và cách làm hàng ăn của họ. Với chúng tôi Tivoli có nghĩa là châu Âu. Đó là một quán ăn gia đình, nó phục vụ trong từng khoảng thời gian ngắn những người làm việc trong các dự án của chính phủ tại Khu chúng tôi – Khu, sân bay, hệ thống cung cấp nước, trạm thuỷ điện. Không khí ở đây là không khí châu Âu, châu Phi bị bỏ ra ngoài. Không có quan chức với đồng hồ vàng và bút máy bút chì nạm vàng, như ở chỗ Mahesh. Đến Tivoli chúng tôi có thể cảm thấy khá thư giãn.
Nhưng bạn không quên được bạn đang ở đâu. Bức ảnh Tổng thống  ở trên cao ba feet. Những tấm chân dung chính thức của Tổng thống  trong trang phục châu Phi ngày càng to hơn, và chất lượng in ấn ngày càng tốt hơn (người ta nói chúng được làm ở châu Âu). Và một khi bạn biết về ý nghĩa của bộ da cáo và tính biểu tượng của cái hình trên cây gậy, bạn sẽ bị ấn tượng, bạn không thể làm được gì. Chúng tôi đều trở thành người của ông, thậm chí cả ở Tivoli này chúng tôi cũng nhớ rằng mình, theo nhiều cách khác nhau, đang phụ thuộc vào ông.
Thường thì những người hầu – hoặc những công dân phục vụ - rất thân thiện, hồ hởi và nhanh chóng. Nhưng đã quá bữa trưa, người con trai của gia đình cao lớn, to béo đứng sau quầy tính tiền, lấp sau máy pha cà phê, quản lý mọi việc, d đang ngủ trưa, không có ai khác trong gia đình có mặt ở đó, và những người phục vụ đang đứng khá lười biếng, giống như những đồng nghiệp trong bộ đồng phục màu xanh của mình. Họ không thô lỗ lắm, chỉ đơn giản là họ đã bị trừu tượng hóa, giống như những người đã mất đi một vai trò.
Dù sao máy điều hòa nhiệt độ vẫn  chạy, không còn c'ai nóng nực, và giờ đây sự khô ráo đã thay thế độ ẩm bên ngoài. Yvette trông đã bớt mệt mỏi, sức lực đã trở lại với nàng. Chúng tôi gọi người phục vụ. Anh ta mang đến cho chúng tôi một bình rượu vang đỏ Bồ Đào Nha, đặt nó xuống và để cho bớt lạnh, và hai cái khay gỗ với cá hồi Scotland đặt trên bánh nướng. Mọi thứ đều được nhập khẩu, mọi thứ đều đắt, cá hồi xông khói trên bánh mì nướnglà món được gọi nhiều nhất ở Tivoli này.
Tôi nói với Yvette "Indar hơi giống một tài tử điện ảnh. Mọi việc có thật sự tệ như anh ấy nói không?"
"Thậm chí còn tệ hơn nữa ấy chứ. Anh ấy đã mất toi một đống séc du lịch".
Nàng ngồi quay lưng vào tường. Nàng có một cử chỉ nhỏ - giống Raymond – lòng bàn tay chống vào cạnh bàn, đầu hơi nghiêng về bên phải.
Cách đó hai bàn một gia đình năm người đang kết thúc bữa trưa và nói chuyện rất to. Những người bình thường, kiểu nhóm gia đình mà tôi thường gặp ở Tivoli. Nhưng Yvette tỏ vẻ rất bực mình, một sự tức giận nho nhỏ xâm chiếm nàng.
Nàng nói "Anh không thể nói về họ được. Tôi thì có thể".
Khuôn mặt đó, sự tức giận đó vẫn giống như một nụ cười, và đôi mắt tố cáo đó, nửa khép trên một tách cà phê nhỏ mà nàng đặt hờ trên miệng, trông thật kín đáo. Tại sao nàng lại tức giận với gia đình kia? Dựa trên cơ sở nào mà nàng phán xét họ? Công việc người đàn ông làm, ngôn từ, cách nói to, cử chỉ chăng? Thế nàng sẽ nói gì về những người trong các hộp đêm của chúng tôi đây?
Tôi nói "Trước cô có biết Indar không?"
"Tôi gặp anh ấy ở đây" nàng để tách cà phê xuống. Đôi mắt nàng theo dõi nó và như thể đang quyết định điều gì đó, nàng nhìn tôi "Anh sống cuộc sống của anh, một người lạ xuất hiện. Anh ta là một điều phiền toái. Anh không cần anh ta. Nhưng gánh nặng đó đã trở thành một thói quen".
Kinh nghiệm về phụ nữ bên ngoài gia đình của tôi khá đối với, rất hạn chế. Tôi không có kinh nghiệm xử sự với một người phụ nữ như thế này, không có kinh nghiệm về thứ ngôn từ, không có kinh nghiệm về sự tức tối và tâm tính như thế này. Và qua những gì nàng vừa nói tôi thấy được sự dũng cảm, sự cả gan mà, với một người loại như tôi, thường hơi e sợ, và, vì lẽ đó, bị hớp hồn.
Tôi không sẵn lòng để chúng tôi lấy Indar làm một điểm chung, như thể dường như giữa Indar và nàng có Raymond ở giữa. Tôi nói "Tôi không thể nói cho cô biết tôi thích cái buổi tối ở chỗ cô hôm đó đến mức nào. Tôi không thể quên được chiếc áo choàng cô khoác. Tôi thường xuyên hy vọng được nhìn lại nó. Áo may bằng lụa đen, được cắt và thêu rất đẹp".
Tôi không thể chọn được một đề tài tốt hơn. Nàng nói "Lần đó thì có gì. Nhưng tôi đảm bảo anh sẽ được thấy nữa".
"Tôi không nghĩ đó là phong cách Ấn độ. Cách cắt may là của châu Âu".
"Nó từ Copenhagen. Margit Brandt. Một lần Raymond đến đó để họp".
Và ở cửa Tivoli, trước khi chúng tôi trở lại với cái nóng và ánh nắng mặt trời, vào lúc đứng lại trong sự nóng nực giống như một sự nghỉ trước khi thực sự đi vào trong cơn mưa, nàng nói với tôi, như thể đó là một dư vị "Anh có muốn đến nhà tôi ăn trưa vào ngày mai không? Chúng tôi phải tiếp một giảng viên. Raymond dạo này hay thích tiếp khách như vậy lắm".
Chắc tàu thuỷ đã đi xa được khoảng mười lăm dặm xuôi dòng. Có lẽ nó đang đi qua vùng cây bụi, nó có thể đà đi qua vùng cây bụi đầu tiên. Tại đó, thị trấn còn rất gần, họ có thể phải đợi tàu từ sáng, và có thể có không khí một chợ phiên cho đến khi tàu đi qua. Những người phục vụ đã xuống thuyền độc mộc, chèo ra chỗ con tàu và cái thuyền đang chuyển động, cố thu hút sự chú ý của hành khách. Những chiếc thuyền độc mộc buôn bán, lao ra từ chỗ của mình trên bờ sông với hàng hoá nhỏ nhoi, dứa, những cái ghế thô sơ, và các thứ dụng cụ (đồ để dùng trong chuyến đi trên dòng sông, một đặc sản của vùng), có thể được dính vào thành cả đám ở hai bên con tàu, và những chiếc thuyền độc mộc đó có thể bị lôi đi, bị lôi đi – hàng dặm xuôi dòng, và sau đó phải mất hàng giờ để chèo về, sau sự phấn khích ngắn ngủi đó, xuyên qua buổi chiều nhợt nhạt, bụi và đêm, trong im lặng.
 
Yvette hoãn bữa trưa. Nhưng nàng không báo cho tôi. Người hầu mặc áo khoác trắng dẫn tôi vào một căn phòng rõ ràng không chờ đợi người khách nào và hoàn toàn không giống căn phòng mà tôi còn nhớ. Những tấm đệm châu Phi vẫn nằm trên sàn nhà, nhưng mấy cái ghế gấp tối đó không có (tôi còn nhớ Yvette từng nói chúng được cất trong buồng ngủ) đã được mang ra trở lại – mấy cái ghế có đính tua giả nhung, với màu "đồng cũ" có ở khắp nơi trong Khu.
Các toà nhà ở Khu đã được dựng lên nhanh, và những chỗ hổng mà bóng tối che đậy nhìn thấy rõ vào ban ngày. Những chỗ trát vữa trên tường nhiều chỗ đã bị nứt và tại một chỗ còn lở cả gạch bên trong ra. Những cánh cửa sổ và cửa ra vào, không có vòng hoặc khung gỗ, trông giống như những cái hố không đều nhau. Những tấm panel trần nhà, một thứ chất liệu nén theo cách nào đó, bung ra ở một vài nơi. Một trong hai máy điều hoà nhiệt độ trong phòng đã bị gỡ đi, chúng không chạy nữa. cửa sổ mở, và không có mái chống nóng, không có cây bên ngoài, chỉ có mặt đất san phẳng, căn phòng đầy ánh sáng và không hề đem lại cảm giác an toàn. Tôi đã tự dựng cho mình biết bao là phóng túng quanh căn phòng này, quanh âm nhạc từ máy quay đĩa – được đặt ở chỗ đó, dựa vào tường cạnh giá sách, vỏ nhựa đục đầy bụi trong ánh nắng!
Thấy căn phòng như thế, như Yvette sống hàng ngày, hiểu thêm về địa vị của Raymond trong nước, giống như bắt gặp sự không đề phòng và biết được sự tầm thường trong nhà của nàng, một ý tưởng nào đó về những căng thẳng và những điều không hài lòng của cuộc sống của nàng ở Khu, cái mà cho đến khi đó đối với tôi vẫn vô cùng rực rỡ. Thật đáng sợ thấy nàng và cuộc sống của nàng, và thật đáng ngạc nhiên và đáng tiếc khi những phóng túng cũ đã biến mất. Nhưng sự tiếc nuối và sợ hãi chỉ kéo dài cho đến khi nàng bước vào. Hẳn nhiên sự ngạc nhiên luôn luôn ngự trị trong tôi chính là bản thân nàng.
Nàng tỏ ra vui vẻ hơn là hối lỗi. Nàng đã quên mất, nhưng nàng biết có điều gì đó nàng phải nhớ về bữa trưa này. Có quá nhiều thay đổi trong kế hoạch bữa trưa đó - bữa trưa  đã được tổ chức ở phòng giáo viên của trường bách khoa. Nàng đi làm cho chúng tôi vài quả trứng Nam Phi. Người hầu đi vào để lau một số chỗ bẩn trên chiếc bàn hình bầu dục có màu tối và được đánh bóng kỹ càng, và để dọn bàn. "Anh sống cuộc sống của anh. Một người lạ xuất hiện. Đó là một gánh nặng".
Trên giá sách tôi nhìn thấy cuốn sách Indar đã chỉ cho tôi với lời cảm ơn Raymond và Yvette với  tư cách là những người chủ nhà đáng mến vào một thời điểm ở thủ đô – một lời cám ơn có nhắc đến Yvette. Ánh sáng và căn phòng đã thay đổi dường như đã làm cho nó biến thành một quyển sách khác. Màu gáy sách đã nhạt đi. Một quyển tôi lấy ra có chữ ký của Raymond và ghi năm 1937- một dấu hiệu quyền sở hữu, nhưng cũng có thể là một điều cố ý, cách nói của Raymond về niềm tin vào tương lai của mình. Cuốn sách đó giờ đã cũ kỹ lắm rồi, gáy màu nâu, những chữ màu đỏ trên gáy gần như đã biến đi – một cái gì đó đã chết, một phế tích. Một quyển khác, mới hơn, có chữ ký của Yvette với cái tên hồi nàng còn chưa lấy chồng, rất có phong cách, lối viết tay của Lục địa, với một chữ y phóng túng, và nói lên rất nhiều điều, giống như cách của Raymond đã ký trên quyển sách hai mươi năm trước đó.
Tôi nói với Yvette khi chúng tôi đang ăn trứng rán, "Tôi rất thích được đọc cái gì đó của Raymon. Indar nói ông biết về đất nước này hơn bất cứ ai còn sống. Ông có xuất bản quyển sách nào không?"
"Ông ấy đang viết sách, và đã vài năm nay rồi. Chính phủ sẽ xuất bản nó, nhưng bây giờ hình như có khó khăn thì phải."
"Thế thì không có sách rồi".
"Có các tập luận văn của ông ấy. Chúng đã được in trong một quyển sách. Nhưng tôi khuyên không nên đọc. Tôi chịu không đọc được. Có một vài bài báo trên các báo. Ông ấy không có nhiều thời gian cho những thứ như thế. Ông ấy tiêu tốn phần lớn thời gian cho quyển sách lớn về lịch sử đất nước".
"Có đúng là Tổng thống  đã đọc nhiều đoạn trong đó?"
"Người ta vẫn nói thế".
Nhưng nàng không nói cho tôi những khó khăn hiện tại. Và tôi đoán rằng Raymond đã tạm thời bỏ lịch sử để làm một tuyển tập diễn văn của Tổng thống. Bữa trưa của chúng tôi  bắt đầu đi vào chỗ  buồn chán. Giờ đã hiểu địa vị của Yvette và Raymond trong Khu, biết về những câu chuyện tôi đã từng nghe về Raymond có lẽ được nghe bởi những người khác, tôi bắt đầu cảm thấy rằng ngôi nhà hẳn là một nhà tù đối với nàng. Và buổi tối đó, khi nàng tổ chức tiệc và mặc bộ áo Margit Brandt để xuất hiện, là một sai lầm.
Tôi nói, khi chủân bị đi "Cô phải đến câu lạc bộ Hellenic với tôi một buổi chiều nào đó mới được. Ngày mai đi. Mọi người ở đó đã lâu rồi. Họ đã thấy mọi điều. Điều cuối cùng họ muốn nói là tình hình đất nước".
Nàng đồng ý. Nhưng sau đó nàng nói "Anh không được quên nhé".
Tôi không có ý kiến gì về những cái nàng đã nói. Nàng rời khỏi phòng, đi qua cánh cửa mà Raymond đã đi vào sau khi ông nói tối hôm đó, và nàng trở lại với một tập tạp chí, Cahiers, một số trong đó được in ở nhà in chính phủ tại thủ đô. Chúng là những quỷên tạp chí có bài của Raymond, đó là sự khởi đầu.
Thứ cỏ sắc nhọn trên những bãi cỏ của Khu rất cao, nó gần như chôn vùi những ngôi nhà le lói ánh đèn trông thấp như nấm làm bằng nhôm dọc theo những đại lộ trải nhựa. một số những ngọn đèn đó đã bị đập vỡ, đã lâu rồi, nhưng có vẻ không ai quan tâm đến điều đó. Ở bên kia Khu là đất cho trang trại thí điểm đã bị cỏ mọc đầy, tất cả những gì còn l.ai của dự án là cánh cửa Trung quốc mà những người Trung Quốc hoặc Đài loan hiện không còn ở đây đã xây, và sáu chiếc máy kéo mục nát nằm hàng ngang. Nhưng Khu, nơi mọi người đi dạo vào các chiều chủ nhật, theo con đường một chiều – giờ được đội Cận vệ trẻ chứ không phải quân đội trông coi – vẫn còn lại. Những bức tượng mới vẫn được dựng thêm tại những lối đi dạo công cộng. Bức tượng mới nhất, ở tận cùng đại lộ chính, là một bức tượng đồ sộ miêu tả một người mẹ và đứa con mình. Những lời ngày xưa của Nazruddin đến với tôi "Nó chẳng là gì hết. Chỉ là cây  bụi thôi" Nhưng điều cảnh báo tôi không phải là Nazruddin. Không có gì cho tương lai công việc buôn bán của tôi hết. Tôi nhìn thấy những khu đất trống của Khu, và những túp lều của những người đến từ làng mạc ngay hướng bên ngoài, và ý nghĩ của tôi về Yvette và cuộc sống của nàng ở Khu. Không phải châu Âu ở châu Phi, như tôi thường cảm thấy khi Indar còn ở đây. Chỉ là một cuộc sống tại vùng cây bụi. Và sự sợ hãi của tôi, vừa là sợ hãi vì thất bại với nàng, bị bỏ lại một mình không có gì bên cạnh, vừa là sự sợ hãi của hàng chuỗi những thành công.
Nhưng sự cảnh báo này tan biến vào buổi chiều ngày hôm sau khi nàng đến căn hộ. Nàng đã từng ở đó trước đây cùng với Indar, trong chính khung cảnh đó, tôi có cảm giác rõ ràng hơn về sự quyến rũ của nàng. Nàng đã thấy cái bàn bóng bàn với đống dây thừng cũ của tôi với một góc để trống để Metty ủi quần áo. Nàng đã nhìn thấy những bức tranh  vẽ các bến cảng châu Âu mà bà già người Bỉ đã để lại cho tôi cùng căn phòng màu trắng.
Sau khi nói một số chuyện về hội hoạ và câu lạc bộ Hellenic, hai chúng tôi đứng dựa vào bức tường, nàng cho tôi chiêm ngưỡng khuôn mặt nhìn nghiêng, quay đi khi tôi cúi vào gần,không đẩy tôi ra cũng không khuyến khích tôi, chỉ tỏ ra mệt mỏi, chấp nhận một sự quấy rầy mới. Thời điểm đó – như tôi đã đọc – là chìa khóa cho tất cả những gì tiếp theo. Sự giằng xé mà tôi thấy khi đó tôi thường muốn thấy, nó là sự đấu tranh mà tôi không bao giờ không trả lời được cả.
Cho đến khi đó những khoái lạc của tôi vẫn chỉ là những khoái lạc nhà thổ về sự chiếm hữu và thóai hoá, với người đàn bà như là nạn nhân tự nguyện, sự đồng loã của cô ta trong sự thoái hoá của chính cô ta. Tôi chỉ biết có thế. Đó là tất cả mà tôi đã học được từ các nhà thổ và hộp đêm của thị trấn chúng tôi. Thật không khó khăn gì để mà bỏ tất cả những chỗ đó khi Indar ở đây. Tôi đã cố tìm những cơ hội giảm bớt những tội lỗi. Thực ra, có lúc, dù nó vẫn kích thích tôi gặp những người đàn bà đi thành từng nhóm ở quầy bar hoặc một phòng khách ở nhà thổ, tôi vẫn không thể vui thú với trò xác thịt thật sự với những người đàn bà mà mình phải bỏ tiền ra mua, và tự hạn chế mình chỉ có những khoái cảm tình dục thấp kém. Quen thuộc quá với kiểu khoái lạc đó với nhiều người đến thế làm nảy sinh cái gì đó như là chiêm ngưỡng những gì họ mang đến, và cùng lúc đó, giống nhiều người đàn ông khác đi một mình đến nhà thổ, tôi nghĩ mình là một kẻ thật yếu đuối, hết sức kém cạnh. Nỗi ám ảnh của tôi với Yvette đã đưa đẩy tôi đến mức không ngờ, và cuộc phiêu lưu với nàng (không phải mua mà là tự nguyện) đã bắt đầu trong căn phòng màu trắng khá mới mẻ đối với tôi này.
Điều tôi gọi là những khoái lạc nhà thổ đã nhanh chóng đẩy tôi qua sự ngượng ngùng đầu tiên. Nhưng trong phòng ngủ với chiếc giường ngủ rất rộng, với nệm cỏ - ít nhất phục vụ cho mục đích mà tôi chắc rằng nữ hoạ sĩ Bỉ đã có ý – những khóai lạc đó đã bị ngăn chặn. Sự tự chiêm ngưỡng những khoái lạc đó đã rơi rụng hết cả.
Đàn bà chiếm một nửa thế giới và tôi nghĩ tôi đã đến được nơi không sự trần truồng nào của đàn bà có thể làm tôi ngạc nhiên được nữa. Nhưng giờ đây tôi cảm thấy như thể mình đang cảm nhận điều gì đó mới mẻ, và đang lần đầu nhìn một người đàn bà. Tôi kinh hoàng khi thấy rằng, bị ám ảnh bởi Yvette như thế, tôi đã mơ rất nhiều về chuyện này. Cơ thể trên chiếc giường với tôi như phát lộ hình thể đàn bà. Tôi tự hỏi rằng những áo quần đó, dù là những quần áo rõ ràngmang màu sắc nhiệt đới tôi từng nhìn thấy trên người Yvette, liệu có thể liên quan nhiều đến thế không, liệu có làm vỡ đôi cơ thể như thế không,thành những mảnh riêng biệt và không thật sự được giấu đi trong sự tuyệt diệu của cái toàn thể.
Viết về cơ hội theo cách của những tạp chí khiêu dâm thật là sai toét. Nó giống như là đang thử mang những cái ảnh của chính tôi, cho người nhìn những hành động của chính tôi, để đảo ngược cơ hội thành khoái lạc nhà thổ mà, trên giường ngủ, không còn được thế nữa.
Tôi rất bối rối, nhưng cảnh giác. Tôi không muốn lạc hướng trong sự tự nhìn mình và tự thẩm thấu của sự phóng túng đó, sự mù quáng của phóng túng đó. Tôi chỉ muốn mình – lo lắng đến nỗi xìu xuống – chiến thắng được sự sở hữu cơ thể này, bởi vì tôi muốn chiếm hữu người sở hữu nó, tôi thấy thật là hoàn hảo, và muốn nữa, trong hành động, giữ mình trong những cách thức có thể làm cho tôi làm được điều đó, tránh không chà đạp lên cơ thể đang ở đây với tôi, tránh sự tẩy xoá của cái nhìn và động chạm. Toàn bộ nghị lực và tâm trí tôi dồn vào mục đích mới chiếm hữu con người này. Toàn bộ khoái cảm của tôi nằm vào hướng mới này, và hành động tình dục với tôi trở thành một cái gì đó hoàn toàn mới mẻ, một kiểu làm đầy, mãi mãi mới.
Trước đây vào những lúc thế này, những thời điểm đồng nghĩa với chiến thắng, sự chán chường đã ập xuống tôi mới nặng nề làm sao! Nhưng với một mục đích là chiến thắng hơn là thành công, hành động hiện nay đòi hỏi một sự cảnh giác thường trực, một cái nhìn thường trực ra bên ngoài từ bản thân tôi. Nó không êm ái, dù nó biểu hiện một nhu cầu lớn với sự êm ái. Nó đã biến thành một hành động vật chất tàn bạo, một hành động gần như là làm việc, và trong khi như thế nó trở nên tàn bạo, cái tàn bạo được tính tóan kỹ càng. Điều này làm tôi ngạc nhiên. Nhưng tôi còn ngạc nhiên hơn bởi chính tôi, vẫn với toàn bộ những thúc đẩy đến sự yếu ớt, như thể hành động này là hành động đầu hàng ở nhà thổ, mà tôi đã biết lâu rồi.
Yvette nói "Đã hàng năm nay em không được thế này rồi". Câu nói này, nếu là đúng, có thể coi là một phần thưởng xứng đáng, sự cực khoái của tôi không còn là quan trọng nữa. Nếu điều nàng nói là đúng! Nhưng tôi không có cách nào đánh giá câu trả lời của nàng. Nàng là người có nhiều kinh nghiệm, còn tôi chỉ là con cừu non mới vào nghề!
Và lại có thêm một sự kinh ngạc nữa. Cho đến cuối tôi không hề cảm thấy mệt mỏi, không cảm thấy trống rỗng. Ngược lại. Trong căn phòng với những bậu cửa sổ sơn trắng đó, một màu trắng giờ đây đã tan hoà vào ánh sáng của buổi chiều muộn, trong căn phòng nóng nực này, vào cuối một ngày thật nóng, toát mồ hôi, tôi, với một cơ thể trơn tuột vì mồ hôi, tôi cảm thấy đầy tràn sức lực. Tôi có thể đi chơi squash tại câu lạc bộ Hellenic ngay lập tức. Tôi cảm thấy mình được tái tạo, được tiếp năng lượng, da thịt tôi cảm thấy thật mới mẻ. Tôi tràn ngập sự băn khoăn về điều đã xảy đến với tôi. Và từng phút một tôi chìm đắm vào torng những khoái cảm sâu thẳm của mình, tôi bắt đầu nhận thức được sự tước đoạt mênh mông trước đó của mình. Thật giống như là phát hiện ra một cơn đói thật lớn lao, chưa từng xuất hiện trong con người tôi.
Yvette, trần truồng, ẩm ướt, không bị ngăn trở, tóc xoã ra, nhưng đã trở lại là mình, sự sôi nổi đã chấm dứt, đôi mắt bình lặng, ngồi vắt chân vào nhau ở mép giường và gọi điện thoại. Nàng nói thổ ngữ. Nàng nói với người hầu phòng của nàng, nàng  sẽ về nhà ngay bây giờ, nàng bảo người hầu phòng báo cho Raymond. Nàng mặc quần áo và sửa lại giường. Sự lo lắng đến đồ đạc trong nhà của nàng khiến tôi tưởng tượng – một cách đau đớn – nàng từng làm như vậy ở những nơi khác.
Ngay trước khi rời khỏi phòng ngủ nàng dừng lại và hôn nhẹ vào cửa quần tôi. Và thế là hết – hành lang, cái bếp kinh tởm của Metty, tầng đệm, ánh sáng buổi chiều vàng vọt, những cái cây ở sân sau, bụi trong không khí, mùi nấu nướng, thế giới hoạt động, và tiếng bước chân của Yvette bước xuống cầu thang lộ thiên. Hành động hôn vào quần tôi đó, mà ở nơi khác tôi có thể coi như là một trong những trò lấy lòng của gái nhà thổ, cái hành động đòi tiền boa, giờ đây đẩy tôi vào nỗi buồn và sự nghi ngờ. Điều đó có nghĩa là gì? Nó có thật không?
Tôi nghĩ đến việc đến câu lạc bộ Hellenic, để sử dụng thứ sức lực đã đến với tôi, và để đổ mồ hôi thêm một chút nữa. Nhưng tôi đã không đi. Tôi đi đi lại lại trong căn hộ để thời gian trôi đi. Ánh sáng bắt đầu nhạt dần, và một sự tĩnh lặng lan chiếm lấy tôi. Tôi cảm thấy mình được ban phước và được tái ta,o, tôi muốn được ở một mình một lúc với cảm giác đó.
Sau đó, nghĩ đến bữa tối, tôi lái xe đến hộp đêm gần đập nước. Giờ đây nó đã đẹp hơn, với cơn bùng nổ kinh tế và những người xa xứ. Nhưng cấu trúc vẫn giữ nguyên và vẫn có vẻ gì đó tạm bợ, vẻ của một nơi có thể đầu hàng chẳng mất mát gì nhiều – chỉ có bốn bức tường gạch không hơn, quanh một khoảng không gian dọn sạch sẽ giữa đám cây bụi.
Tôi ngồi bên ngoài tại một cái bàn dưới cây cối trên mỏm đá và nhìn xuống dòng nước đang  chảy qua đập nước, và cho đến khi ai đó nhận ra tôi và bật những ngọn đèn màu xung quanh những cái cây, tôi ngồi trong bóng tối, cảm thấy sự mới mẻ trong da thịt mình. Những chiếf xe đi tới và đậu lại. Có những giọng nói tiếng Pháp của người châu Âu và châu Phi. Những người phụ nữ châu Phi, hai hay ba người, đến bằng taxi từ thị trấn. Choàng khăn, lười biếng, thẳng đuột, nói to, họ lê dép trên nền đất. Khi ở Tivoli, Yvette đã tức giận với những sự vô ý của một gia đình nước ngoài. Với tôi tất cả đã xa vời – hộp đêm, thị trấn, những túp lều, những người nước ngoài "tình hình đất nước", mọi thức chỉ làm nền mà thôi.
Thị trấn, khi tôi lái xe trở về, đã quay trở lại cuộc sống ban đêm của mình. Giờ đây đã vào đêm, trên những phố chính ngày càng đông người, có không khí làng xã, với những nhóm người không xác định quanh những quầy bán đồ uống tại những khu vực tồi tàn, những ngọn lửa rán đồ ăn trên hè phố, những chỗ ngủ ngoài trời, sự say xỉn của những người đàn ông rách rưới, sẵn sàng sủa lên như chó, mang thức ăn đến những góc tăm tối của mình, ăn trong cái nhìn của người khác. Những cửa sổ của một số cửa hiệu – đặc biệt các cửa hiệu bán quần áo, với những thứ đồ nhập khẩu đắt đỏ của mình – sáng rực, với lý do chống trộm cắp.
Trên quảng trường không xa căn hộ, một người đàn bà trẻ đang nói oang oang – một sự ầm ĩ thật sự mang tính châu Phi. Cô ta đang bị chen lấn trên hè phố bởi hai người đàn ông, mỗi người vung vẩy một thứ vũ khí. Nhưng không ai trên quảng trường làm gì hết. Những người đàn ông này mặc đồ Vệ Binh Trẻ. Các sĩ quan nhận lương từ Người Đàn Ông Vĩ Đại, và họ được cho vài chiếc xe jeep của chính phủ. Nhưng, cũng giống các quan chức ở cầu tàu, họ phải tìm việc gì đó để làm. Đó là "đội tuần tra đạo đức". Ngược lại thì đúng hơn. Cô gái có thể bị tóm đến từ một quán bar nào đó, có lẽ cô đã cãi lại hoặc không chịu trả tiền.
Trong căn hộ tôi thấy đèn trong phòng Metty bật sáng. Tôi nói "Metty?" Nó nói qua cánh cửa "Patron?" Nó đã không gọi tôi là Salim nữa, ngoài cửa hiệu chúng tôi hiếm khi gặp nhau. Tôi nghĩ giọng nói của nó thật là buồn, và tiếp tục đi về phòng mình, chiêm ngưỡng vận may của mình, và tôi nghĩ, Metty tội nghiệp. Làm cách nào để kết thúc điều đó cho nó? Một người thân thiết làm sao, và đến cuối cùng vẫn không có bạn. Nó nên ở lại bờ biển thì hơn. Nó có chỗ ở đó. Tại đó những người giống nó. Ở đây nó lạc lối.
 
Yvette gọi điện cho tôi tại cửa hiệu vào cuối buổi sáng ngày hôm sau. Đó là lần đầu tiên nàng gọi điện, nhưng nàng không gọi tên tôi hay nói tên nàng. Nàng nói "Anh có ăn trưa ở căn hộ không?" Trong tuần hiếm khi tôi ăn trưa ở căn hộ, nhưng tôi nói "Có", nàng nói "Tôi sẽ đến gặp anh ở đó". Và đó là tất cả.
Nàng không để cho tôi một quãng nghỉ, không có sự im lặng, không cho tôi thời gian để ngạc nhiên. Và thực tế, chờ đợi nàng trong căn phòng khách màu trắng sau mười hai giờ, đứng tại bàn bóng bàn, xem lướt qua một tạp chí, tôi không hề cảm thấy ngạc nhiên. Tôi cảm thấy cơ hội – dù gì cũng là toàn bộ sự bất thường của nó, sự quái đản của giờ giấc, sự bừng sáng chết người của ánh sáng – để được chỉ là sự tiếp nối của cái gì đó tôi từng sống với từ lâu.
Tôi nghe nàng bước vội vã trên cầu thang nàng đã xuống buổi chiều hôm trước. Tôi không nhúc nhích, chỉ thấy bồn chồn. Cửa tầng đệm mở, cửa phòng khách mở - bước chân của nàng nhanh và không hề chậm lại. Tôi quá vui mừng gặp lại nàng, đó là một sự khuây khoả mênh mông. Vẫn có sự vội vã trong thái độ của nàng, nhưng qua gương mặt nàng dường như được cấu tạo như thế, nàng không hề mỉm cười. Đôi mắt nàng nghiêm trang, với một sự ẩn giấu giằng xé, náo động.
Nàng nói "Em nghĩ về anh cả buổi sáng. Em không tài nào đẩy anh ra khỏi đầu được", và dù nàng đã vào phòng khách chỉ để rời khỏi đó, dù việc nàng chuyện căn hộ là sự tiếp nối thẳng thắn của cú điện thoại của nàng, nàng vẫn muốn có đủ thời gian để nói, nàng đi vào phòng ngủ và bắt đầu cởi quần áo.
Điều này diễn ra trước mắt tôi. Đối diện với nàng, tôi lại cảm thấy những niềm khoái lạc cũ. Cơ thể tôi lại vâng lời những thúc đẩy mới, phát hiện trong bản thân nó những nguồn trả lời cho nhu cầu mới của tôi. Mới – đó là từ chính xác. Nó luôn luôn mới, rất quen thuộc qua cơ thể và những câu trả lời của nó, cũng thực thể như chính hành động, đòi hỏi sự cục cằn, kiểm soát và tinh tế đó. Cuối cùng (như tôi đã cả quyết, như tôi từng cả quyết tất cả trước đó), được tiếp thêm sức lực, được sống lại, tôi cảm thấy tôi đã được đưa lên xa hơn rất nhiều sự tuyệt vời của buổi chiều hôm trước.
Tôi đã đóng cửa hiệu vào lúc mười hai giờ. Mãi ba giờ chiều tôi mới quay lại đó. Tôi không hề ăn trưa. Ăn trưa làm tôi mất thời gian, mà thứ sáu là ngày buôn bán được. Tôi thấy cửa hiệu bị đóng cửa. Metty đã không hề mở cửa, như tôi đã dăn nó. Đã mất toi một tiếng đồng hồ không bán được gì, và nhiều người bán lẻ từ những ngôi làng xa xôi đã mua được hàng và bắt đầu chặng đường dài về nhà bằng thuyền độc mộc hay xe tải. Hàng hoá được những chiếc xe hàng cuối cùng chở đến không còn nhiều nữa.
Lần đầu tiên tôi cảm thấy cần báo động về bản thân mình, về sự chậm trễ. Tôi có những viễn cảnh của sự nghèo đói và tình trạng đổ nát, người không thuộc về châu Phi lạc lối ở châu Phi, không còn có sức mạnh hay mục đích để giữ những gì thuộc về mình, và với ít hơn những gì những kẻ say sưa rách rưới chết đói dở từ những ngôi làng lang thang đến quảng trường, nhìn vào những quầy hàng thực phẩm, lang thang xin xỏ từng ngụm bia, và những kẻ gây rắc rối trẻ tuổi từ những thị trấn đổ nát, một nhân tố mới mặ áo phông đóng dấu ảnh Người Đàn Ông Vĩ Đại và nói về những người nước ngoài và lợi lộc và, chỉ muốn có tiền (giống như Ferdinand và bạn bè của nó t.ai trường trung học ngày xưa) đến các cửa hiệu và mặc cả gay gắt những hàng hoá mà chúng không hề muốn, khăng khăng đòi mua giá gốc.
Từ sự báo động về bản thân đó – bởi đó là lần đầu tiên – tôi chuỷên sang tức giận Metty, người mà đêm trước tôi còn thương đến thế. Rồi tôi nhớ lại. Đó không phải lỗi của Metty. Nó đang ở chỗ hải quan, thanh toán hàng đến bằng tàu thuỷ, con tàu đã mang Indar và Ferdinand đi xa, con tàu vẫn trên chặng đường đến từ thủ đô.
 
Trong hai ngày, kể từ bữa ăn trưa ăn trứng rán với Yvette ở nhà nàng trong Khu, những tạp chí có bài của Raymond đã bị bỏ trong ngăn kéo của tôi. Tôi không xem chúng. Giờ thì tôi làm điều đó, nhớ đến chúng qua những ý nghĩ về chiếc tàu thuỷ.
Khi tôi hỏi Yvette cho xem những thứ Raymond từng viết, đó chỉ là cách để tiếp cận nàng. Giờ đây không cần thế nữa. Những bài báo Raymond viết trên các tạp chí địa phương có vẻ thật khó nhằn. Một là bài điểm sách về một cuốn sách của Mỹ về các luật lệ thừa kế ở châu Phi. Bài khác, khá dài, với đầy đủ chú thích và bảng biểu, dường như là một phân tích kỹ càng về cách thức bầu cử ở bộ lạc, về những cuộc bầu cử hội đồng địa phương tại thị trấn mỏ khổng lồ ở phía Nam ngay trước độc lập, một số trong những cái tên của các bộ lạc bé nhất tôi từng nghe nói đến.
Những bài báo trước đó, trên các tạp chí nước ngoài, có vẻ dễ hiểu hơn. "Bạo loạn trong một trận bóng đá", trong một tạp chí Mỹ, và về cuộc bạo loạn sắc tộc ở thủ đô trong những năm 1930 đã dẫn đến việc thành lập câu lạc bộ chính trị đầu tiên của châu Phi. "Những tự do bị đánh mất", trong một tạp chí của Bỉ, là về sự thất bại của một chương trình truyền đạo, vào cuối thể kỷ mười chín, để mua lại những người nô lệ bị bắt đi từ những lễ hội nô lệ của người A rập, và cho họ về ở trong những "ngôi làng tự do".
Tôi quan tâm đến những bài báo đó – tôi đặc biệt quan tâm đến những cuộc truyền đạo và nô lệ. Nhưng những đoạn văn sáng sủa khi mở đâu thật gây thất vọng, không thể đọc được những bài báo này ở cửa hiệu vào buổi chiều. Tôi để chúng ra, để đọc sau. Và buổi tối hôm đó, khi đọc sách trên chiếc giường lớnó mà Yvette vài giờ trước đã mặc quần áo, và nơi hơi của nàng vẫn còn vương lại, tôi cảm thấy kinh hoàng.
Bài báo về một vụ xung đột sắc tộc – sau đoạn văn mở đầu sáng sủa mà tôi đã đọc ở cửa hiệu – trở thành một tập hợp các sắc lệnh của chính phủ và trích dẫn trên các bài báo. Có rất nhiều từ các báo, Raymond dường như coi việc này là cực kỳ quan trọng. Tôi không thể nghĩ như thế, bởi vì qua kinh nghiệm của mình tại bờ biển tôi biết rằng báo chí tại những vùng thuộc địa nhỏ viết về một kiểu sự thật rất đặc biệt. Báo chí không nói dối, nhưng chúng chỉ là hình thức. Báo chí tôn kính viết về những người có vai vế - thương gia, quan chức cao cấp, thành viên các hội đồng lập pháp và hành pháp. Chúng thường để lọt mất những điều quan trọng, thường là những điều cốt yếu – mà người dân địa phương có thể biết được và xì  xào với nhau.
Tôi không biết những tờ báo ở đây trong những năm 1930 có khác lắm so với báo ở vùng bờ biển của chúng tôi không, và tôi luôn hy vọng rằng Raymond biết cách luồn sau những câu chuyện trên báo và những bài xã luận để nói lên được những sự kiện thật sự. Một cuộc xung đột sắc tộc tại thủ đô trong những năm 1930 – điều đó hẳn phải có một cốt truyện rất mạnh, đấu súng tại các quán cà phê và câu lạc bộ châu Âu, sự kinh hoàng và nỗi sợ hãi tại các cité châu Phi. Nhưng Raymond không hề quan tâm đến khía cạnh đó. Ông không hề tạo cảm giác dã từng nói chuyện với một ai đó trong số những người có liên quan, dù nhiều người vẫn còn đang sống khi ông viết bài báo. Ông dính vào những tờ báo, dường như ông muốn cho thấy rằng ông đã đọc toàn bộ chúng và đã tạo ra được khía cạnh chính trị chính xác của một sự kiện. Chủ đề của ông là một sự kiện ở châu Phi, nhưng ông có vẻ như đã viết về châu Âu hoặc một nơi nào đó ông chưa từng ở.
Bài báo về những nhà truyền đạo và nô lệ cũng đầy trích dẫn, không phải từ các báo, mà là từ kho tự liệu truyền đạo châu Âu. Chủ đề với tôi chẳng mới mẻ gì. Tại trường học tại Khu bờ biển chúng tôi đã nói về sự lan truyền của châu Âu trong những lãnh thổ của chúng tôi như thể không hơn là một thất bại của người A rập và những cách thức buôn bán nô lệ của họ. Chúng tôi nghĩ đến cái đó như là của chương trình học của trường  châu Âu, chúng tôi không quan tâm. Lịch sử là cái gì đó đã chết và đã qua, một phần của thế giới của cha ông chúng tôi, và chúng tôi không mấy quan tâm đến nó, dù vậy, trong những gia đình buôn bán như gia đình tôi, vẫn có những câu chuyện mơ hồ - mơ hồ đến nỗi chúng không được coi là thật – về những giáo sĩ châu Âu mua nô lệ giá rẻ từ các hội chợ trước khi mang đến bờ biển. Những người châu Phi (và đó là mấu chốt của câu chuyện) đã bị lột da, họ nghĩ rằng những nhà truyền đạo đã để ăn thịt họ.
Tôi không có ý tưởng nào, cho đến khi tôi đọc bài báo của Raymond, rằng cuộc phiêu lưu đã từng có quy mô rất lớn và rất nghiêm trọng. Raymond cung cấp tên của tất cả những ngôi làng tự do từng được dựng lên đó. Rồi, trích dẫn và trich dẫn từ những lá thư và báo cáo trong các lưu trữ, ông chỉ ra ngày tháng của sự biến mất của mỗi ngôi làng. Ông không hề cung cấp các lý do và coi chúng chẳng là gì cả, ông chỉ trích dẫn từ các báo cáo của những người truyền tin. Dường như ông không đi đến nơi nào hết trong những chỗ ông viết, ông không thử nói chuyện với ai đó. Thế mà chỉ cần nói chuyện năm phút với Metty – người đã ở bờ biển, từng trải qua nỗi hãi hùng trên con đường đi qua châu lục – nó có thể nói cho Raymond biết rằng toàn bộ kế hoạch sùng đạo đó tàn độc và xấu xa đến mức nào, để một số người không được bảo vệ trong một lãnh thổ lạ nghĩa là để họ lại cho sự tấn công và bắt cóc và còn tồi tệ hơn. Nhưng Raymond dường như không hề biết đến điều đó.
Ông biết nhiều quá, ông nắm được nhiều quá. Ông hẳn phải mất hàng tuần lễ cho mỗi bài báo. Nhưng ông có quá ít hiểu biết thực sự về châu Phi, ít hơn cả Indar, Nazruddin hay Mahesh, ông chẳng hề có một chút gì bản năng của cha Huismans về sự lạ mặt và băn khoăn về địa điểm. Ông đã biến châu Phi thành chủ đề của mình. Ông đã cống hiến hàng năm trời cho những cái hộp tài liệu trong nghiên  cứu của mình mà tôi đã từng nghe từ Indar. Có lẽ nào ông đã biến châu Phi thành chủ đề của mình với ông đã đến châu Phi và bởi vì ông là một nhà học giả, quen làm việc với giấy tờ,và đã tìm thấy tại nơi này đầy những giấy tờ mới.
Ông từng là giáo viên ở thủ đô. Khi ông còn ở tuổi trung niên – vận may đã đưa ông tiếp cận với Tổng thống  tương lai. Vận may – và một cái gì đó thuộc về sự triù mến của giáo viên với cậu bé châu Phi tuyệt vọng đó, một sự trìu mến có khả năng lẫn lộn với một ít cay đắng về sự thành công của cậu ta hơn là của ông, người đàn ông có thể đã tự thấy mình trong cậu bé, lời khuyên ông đã cho cậu bé cần gia nhập lực lượng quốc phòng dường như có trong đó một sự cay đắng nào đó – vận may đã cho ông mối quan hê. đặc biệt đó với người đã trở thành Tổng thống  và đã đưa ông, sau độc lập, đến vinh quang mà ông chưa từng bao giờ mơ đến.