Chương 57
Chí tự cường, Quang Trung thay quốc tự.
Luận cơ trời, Hoàng hậu bình thơ.

Nói về Nguyễn vương ở Gia Định, ngày ấy nơi thành Sài Côn Nguyễn vương họp các tưởng nói:
- Nay đã đến mùa gió Nồm ta nên đem thuỷ quân thuận gió đánh Quy Nhơn. Các tướng ai có kế gì chăng?
Nguyễn vương vừa dứt lời. Xảy quân do thám vào báo:
- Tâu Thượng vương, đây là tờ hịch của vua em Tây Sơn là Quang Trung Nguyễn Huệ truyền cho dân chúng ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên. Kính trình Thượng vương duyệt lãm.
Nguyễn vương với đón lấy tờ hịch mở ra đọc, hịch rằng:
"Hịch truyền dân chúng ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên.
Kể từ ngày Tây Sơn dấy nghĩa đến nay nhờ dân ba phủ hết lòng giúp đã nên Hoàng Đại huynh ta mới dựng nên cơ nghiệp lớn. Công lao của nhân dân ba phủ thật đáng lưu truyền vào sử xanh.
Vua rồi nghe Nguyễn Phúc Ánh được bọn người Pháp Lang Sa theo giúp, lại được thần tiên rước lên trời khiến nhân dân nghi ngại bỏ việc nông tang, xôn xao bàn điều thế sự.
Thật ra ấy là bọn Pháp Lang Sa dùng khinh khí cầu bay được lên cao đem chuyện thần tiên phỉnh lừa bá tánh. Ta còn lạ gì khinh khi cầu của bọn chúng! Bọn người mắt xanh mũi lõ, nước da trắng bệch như một xác chết trôi ngoài biển Bắc kia nào có tài cán gì mà dân chúng phải sợ? Ta đã từng đốt cháy tàu của chúng trận sông Thất Kỳ Giang, đuổi Nguyễn Phúc Ánh lội bùn Gia Định mà chạy như một con vịt lạc. Đại quân ta, xưa nay đi đến đâu không kẻ thù nào dám chống cự, không thành trị nào ngăn cản được. Điều này hẳn dân ta cũng đã biết.
Nay đã đến mùa gió Nồm, dân chúng hãy hết lòng giúp đỡ Hoàng Đại huynh ta đề phòng Phúc Ánh đánh ra.
Đợi hết Hạ sang Thu đầu mùa gió Bấc ta sẽ thân chinh kéo đại binh vào Gia Định tiêu diệt bọn Pháp Lang Sa, giết cho được Nguyễn Phúc Ánh, để mầm mống phản loạn không còn manh nha quấy rối, cho nhân dân cả nước được an cư lạc nghiệp.
Nay chiếu.
Quang Trung Nguyên niên"
.
Xem xong Nguyễn vương toát mồ hôi nói:
- Ta những tưởng Nhạc - Huệ bất hoà nước ai nấy lo, không ngờ Huệ lại định đem quân giúp Nhạc đánh ta. Trăm vạn quân Tây Sơn ta không ngại, chỉ ngại có mình Nguyễn Huệ mà thôi.
Võ Tánh hỏi:
- Phải đến mùa gió Bắc Nguyễn Huệ mới đem quân vào đánh ta được. Nay ta nên thuận gió Nồm đánh Nhạc ở Quy Nhơn, hay cũng cố lực lượng chống Nguyễn Huệ.
Nguyễn vương lấy vạt áo lau mồ hôi trán rồi nghiến răng nói:
- Truyền lệnh ta lập tức xuất quân!
Tháng ba năm Nhâm Tý (1792) Nguyễn Vương đem đại binh theo đường biển thuận gió Đông Nam ra đánh Quy Nhơn. Thái tử Tây Sơn là Nguyễn Bảo và cha con Lê Trung, Lê Chất rút thuỷ quân vào đóng trong đầm Thị Nại rồi chia quân giữ các nơi hiểm yếu. Quân Nguyễn vương đánh mãi không được, Nguyễn vương đành kéo quân về Gia Định.
Đến Sài Côn thấy trên bến sông Thị Nghè các giáo sĩ người Pháp Lang Sa rộn ràng đem gia quyến xuống thuyền. Nguyễn vương gọi lại hỏi:
- Ta đã cho các ngài được tự do truyền đạo. Vậy có ai dám kháng lệnh quậy phá các ngài hay sao mà cả ngài lại bỏ đi?
Một giáo sĩ đáp:
- Nay đã gần đến mùa gió Bấc, chúng tôi phải di tản về nước tránh Nguyễn Huệ đem quân vào đánh!.
Nói rồi cả bọn liền từ biệt Nguyễn vương mà đi. Nguyễn Vương vào thành mời các tướng đến thương nghị. Nguyễn vương hỏi:
- Nay Nguyễn Huệ đã hoà với nhà Thanh. Huệ định đến mùa Thu sẽ đem quân đánh ta. Vậy ta nên tiến thủ thế nào.
Mưu sĩ Ngô Tùng Châu bước ra nói:
- Nguyễn Huệ đánh ta tất phải dùng cả thuỷ cả bộ, vậy ta phải chia quân ra giữ hai cửa biển Cần Giờ, Hàm Luông. Bộ quân ta tăng cường trấn thủ Trường Đồn ở phía Nam, Trấn Biên ở phía Bắc thì Thượng vương ở Sài Côn vững như bàn thạch vậy.
Nguyễn vương lo lắng nói:
- Kế này là kế năm xưa Ngô tiên sinh tiến cử Gia Định tam hùng trấn thủ các nơi ấy, nhưng khi Nguyễn Huệ tiến quân vào thì không ai giữ nổi. Nguyễn Huỳnh Đức giữ Hàm Luông thì bị Đặng Văn Long bắt sống, quân ta bại trận khắp nơi. Nay dùng kế ấy e cũng như năm xưa nào có khác gì.
Võ Tánh tức khí bước ra nói lên:
- Tuy kế sách chống giữ cũng như nhau nhưng quân tình có khác. Phen này phải đánh thắng Nguyễn Huệ mới được!
Nguyễn vương hỏi:
- Quân tình khác ở chỗ nào?
Tánh đáp:
- Lúc ấy quân ta mới mộ, còn này tướng sĩ đã thiện chiến. Lúc ấy vũ khí thô sơ, còn nay người Pháp giúp ta tàu đồng, đại bác. Vả lại lúc ấy thần cố an thân ở rừng Tam Phụ, nay thần đã quyết lòng đánh giặc lập công chuộc tội, báo đáp ơn trị ngộ của Thượng vương. Ấy là ba điểm khác nhau của quân tình vậy.
Nguyễn vương nghe thế tạm an lòng. Từ ấy ngày đêm rèn luyện quân sĩ chờ quân Tây Sơn đến đánh.
Nói về vua Quang Trung ở Phú Xuân sai Vũ Văn Dũng đi sứ Mãn Thanh rồi, vua bàn với Trần Văn Kỷ rằng:
- Quân ta từ trước đến nay chỉ là người tình nguyện xung phong làm lính. Nay ta muốn tuyển thêm quân để dự phòng đánh Mãn Thanh, vậy phải làm thế nào?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Số người còn lại không muốn đi lính vì nặng óc trung quân, cho rằng Hoàng thượng không phải dòng chính thống. Nay nếu ta cứ bắt lính bừa bài e náo động nhân tâm.
Vua hỏi:
- Vì sao lại náo động nhân tâm.
Kỷ đáp:
- Số người không muốn đầu quân khi bị bắt lính trốn từ làng này sáng làng khác. Nếu Hoàng thượng xuống lệnh bắt gắt gao e rằng bọn hương lý thừa cơ hội ấy sách nhiễu lương dân nên náo động nhân tâm là do thế.
Đêm ấy vua Quang Trung trằn trọc mãi. Hôm sau vừa gọi Trần Văn Kỷ đến hỏi:
- Nếu ta có cách bắt lính mà vẫn giữ được kỷ cương khiến kẻ nhút nhát không thể trốn việc đầu quân, và bọn hào lý không thể sách nhiều dân lành được thì thế nào?
Trần Văn Kỷ lại hỏi vua rằng:
- Xin hỏi Hoàng thượng ấy là cách nào?
Vua Quang Trung đáp:
- Ta lệnh cho dân trong nước mỗi người phải đeo một cái thẻ bài để bốn chữ "Thiên Hạ Đại Tín". Trong thẻ bài ấy phải ghi rõ tên, họ và tuổi tác. Hễ ai có thẻ bài là dân trong nước của ta, rồi cứ ba tráng đinh kén lấy một người đầu quân, nhờ đó không ai có thể trốn tránh được và hào lý địa phương cũng không có cớ gì sách nhiễu dân lương thiện có thẻ bài. Nếu vậy chắc chắn tuyển được thêm quân và kỷ cương pháp luật được giữ vững. Trần tiên sinh thấy thế nào?
Trẫm Văn Kỷ vòng tay nói:
- Ấy thật là kế sách vẹn toàn. Hoàng thượng có tài kinh bang tế thế xưa nay chưa từng thấy vậy.
Vua Quang Trung trầm ngâm nói:
- Nước Nam ta đất rộng dân thưa. Nay ta muốn mũ xuống hịch khuyến nông xuất ngân khố nhà nước giúp đỡ dân nghèo khai khẩn đất hoang thì mới mong dân giàu nước mạnh đề đối chọi với Mãn Thanh phương Bắc và bọn Pháp Lang Sa ở miền Nam được. Vậy phiền Trần tiên sinh hãy soạn hịch khuyến nông truyền khắp trong nước.
Trần Văn Kỷ tuân lệnh lập tức thi hành.
Hôm sau vua Quang Trung giả dạng dân thường đem theo Võ Đình Tú và Trần Văn Kỷ ra ngoài thành xem xét. Đến một thôn trang kia, thấy dân chúng trong thôn tụ tập ở sân đình nghe quan chánh thôn đọc chiếu khuyên nông.
Vua Quang Trung bảo Võ Đình Tú và Trần Văn Kỷ:
- Ta mau đến gần xem thử quan lại các cấp thi hành pháp lệnh thế nào.
Vua tôi tới nơi vừa lúc quan chánh thôn đã đọc xong bài hịch rồi. Một cụ già bước ra hỏi:
- Chiếu vừa ban ra quan trên đọc bảng tiếng Hán. Dan đen chúng tôi ít học nên không hiểu, nhờ quan trên dịch nghĩa Nôm cho thì dân chúng tôi mới biết trong chiếu vừa nói gì.
Quan chánh thôn đáp:
- Lệnh vua ban ra bảo đọc chiếu chứ không bảo dịch chiếu. Các ngươi muốn hiểu thì tự đi học lấy chữ Thánh hiền.
Nói xong quan chánh thôn liền bỏ về. Vua Quang Trung hỏi cụ giá ấy:
- Vậy cụ phải nhờ ai địch chiếu của vua.
Cụ già đáp:
- Nhờ quan chánh thôn chứ còn ai nữa.
Vua ngước nhìn hỏi:
- Lúc này quan đã không chịu dịch rồi kia mà.
Cụ già cười đáp:
- Cứ đến nhà riêng mang theo lễ vật, quân lập tức dịch ngay.
Nghe xong vua Quang Trung lẳng lặng ra về. Trên đường về Trần Văn Kỷ bàn:
- Hoàng thượng nên xuống hịch cho quan sở tại có bổn phận phải dịch Nôm cho dân chúng nghe thì tránh được tình trạng quan lại thừa kẽ hở của pháp luật mà nhận quà cáp của dân.
Vua Quang Trung bảo:
- Ta có cách không cần phải ra lệnh cho quan sở tại dịch Nôm, mà họ vẫn phải đọc chiếu của vua bằng tiếng Nôm của ngươi Nam ta cho dân chúng hiểu được.
Trần Văn Kỷ hỏi:
- Thưa, ấy là cách gì?
Vua Quang Trung vừa đi đến đoạn đường có nhánh cây to bằng bắp chân đâm ngang chặn lỗi, vua đưa tay vận sức bẻ nhánh cây ấy xuống và nói:
- Thay đổi quốc tự!
Văn Kỷ giật mình hỏi:
- Thế nào là thay đổi quốc tự?
Vua đáp:
- Từ nay về sau không dùng chữ Hán của người Tàu mà dùng chữ Nôm của ngươi Nam ta viết chiếu chỉ, văn thư.
Văn Kỷ lo lắng hỏi:
- Nhưng nước Nam ta từ mấy ngàn năm nay trải quả bao triều đại đều dùng chữ Hán làm quốc tự. Nay Hoàng thượng đổi quốc tự e không thuận lòng người. Xin Hoàng thượng nên thận trọng xem xét lại.
Vua Quang Trung ném nhánh cây xuống đất đáp:
- Ta đã suy xét từ lúc tóc còn để chỏm. Nay thả canh dần ta dùng chữ Hán làm quốc tự gặp bao điều rắc rối ta càng quyết tâm hơn. Văn Kỷ hãy truyền hịch khắp thiên hạ từ nay trở đi dùng chữ Nôm làm quốc tự.
Trần Văn Kỷ tuân lệnh theo ý vua mà làm. Chiếu lệnh được ban ra. Hôm sau vua Quang Trung và Võ Đình Tú, Trần Văn Kỷ lại giả dạng dân thường a ngoài thành xem xét. Đến chỗ đông người nghe một nho sĩ nói lên rằng:
- Vua Quang Trung không học sách Thánh hiền mà hạ lệnh dùng chữ Nôm làm quốc tự thay chữ Hán.
Võ Đình Tú nghe vậy nổi giận phừng phừng, vùng tung người nhảy đến chỗ tên nho sĩ vừa nói. Vua Quang Trung lẹ mắt nhảy vội theo chụp được bàn chân Võ Đình Tú kéo xuống đất. Vua quở:
- Khi chưa có lệnh ta không được làm càn.
Võ Đình Tú tức tối, nói:
- Tên hủ nho buông lời phạm thượng. Xin để thần bắt nó đến chỗ Hoàng thượng trị tội.
Vua Quang Trung gạt đi bảo:
- Đã nói họ là hủ nho còn chấp họ làm gì. Mau theo ta về cung.
Về cung, vua hỏi Trần Văn Kỷ:
- Kẻ hủ nho trong thiên hạ không phải là ít. Nay họ đặt điều nói gièm e không lợi cho ta. Theo tiên sinh ta phải đối phó bằng cách nào?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Việc này thật thần chưa từng gặp. Xin Hoàng thượng hãy vấn kế Ngô Thì Nhậm xem sao.
Vua trầm ngâm bảo:
- Ngô Thì Nhậm đang cùng Văn Sở, Văn Lân, Văn Tuyết trấn thủ Bắc Hà. Ta phải triệu Thì Nhậm về ngay mới được.
Đoạn vua viết chiếu lệnh sai quân gặp ra Thăng Long. Về đến Phú Xuân gặp vua Quang Trung, Ngô Thì Nhậm hiến kế:
- Kẻ sĩ trong thiên hạ đều tâm phục khẩu phục một người, xem như bậc thầy tôn làm phụ tử, ấy là La Sen Nguyễn Thiếp. Nay Hoàng thượng mời Nguyễn Thiếp ra chủ trì việc thay đổi quốc tự, tất kẻ hủ nho không còn ai dám buông lời gièm xiểm.
Vua Quang Trung mừng rỡ vỗ tay khen:
- Ngô tiên sinh thật là cao kiến. Vậy phiền khanh đến mời phu tử một phen.
Ngô Thì Nhậm tuân lệnh sớm sứa lên đường.
Nói về La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ở Hành Âm cốc ngày ấy đang tham thiền nhập định bỗng giật mình gọi tiểu đồng đến bảo:
- Ngươi mau dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị hương ở cho ta tiếp chỉ của vua.
Tiểu đồng vừa làm xong thì Ngô Thì Nhậm đến đọc chiếu mời của vua. Nguyễn Thiếp vui vẻ nói:
- Xin ngài chờ cho một lát. Tôi vào trong thu xếp rồi sẽ đi ngay.
Vào trong tiểu đồng hỏi Nguyễn Thiếp:
- Vua Quang Trung lần trước mời thầy vấn kế đánh Mãn Thanh, thấy đi rồi lại quay về. Lần này thầy đi bao giờ mới về?
Nguyễn Thiếp đáp:
- Hết Hạ sang Thu, đầu mùa gió Bấc ta sẽ quay về.
Tiểu đồng lại hỏi:
- Thày đi lo việc thay đổi quốc tự sao mới hai tháng quay về.
Thiếp buồn rầu đáp:
- Ta mười làm năm ở ăn học phép tham thiền biết điều quá khứ vi lại. Vua Quang Trung là người nhìn xa trông rộng, yêu nước thương dân, lo toan chính sự chuyên tâm cải cách. Nhưng ta định tâm nhìn vào tương lai thấy mọi sự đều bất thành. Thật là đáng tiếc.
Tiểu đồng ngạc nhiên hỏi:
- Thấy biết việc không thành sao còn nhận lời ra giúp vua.
Thiếp trầm ngâm đáp:
- Ta thường dạy học trò rằng: "Quốc giá hưng vong. Thất phu hữu trách". Việc vua thay đổi quốc tự dù không thành nhưng tiếng để ngàn thu. Nếu ta không giúp người đời sau sẽ bảo ta không bằng kẻ thất phu sao.
Nói rồi liền chống gậy ra xe theo Ngô Thì Nhậm về kinh yết kiến vua Quang Trung. Vua Quang Trung phong Nguyễn Thiếp làm viện trưởng Sùng Chính Viện, chiêu tập kẻ thức giả trong nước vào làm việc trong viện, dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để truyền dậy dân chúng. Kẻ sĩ lúc bây giờ bảo nhau rằng:
- La Sơn phu tử là người chẳng thiết công danh không màng sinh tử nên vua vời đã ba lần mà ông ta không ra giúp. Nay phu tử là bậc thầy của bọn ta lại ra giúp vua thay đổi quốc tự tất việc này phải có ý nghĩ gì đây. Bọn ta không hiểu thời thôi, chớ bình phẩm vô tội vạ kẻo thiên hạ cười ta là kẻ chẳng biết gì.
Vua Quang Trung nghe những lời ấy bèn đến Sùng Chính Viện thi lễ với Nguyễn Thiếp, vua nói:
- Xin thầy hãy nhận của trẫm một lạy này.
Thiếp thất kinh vội can:
- Hoàng thượng là thiên tử sao lại làm thế cho lão thần mang tội với trời đất.
Vua Quang Trung nói:
- Nhờ thầy ra giúp việc thay quốc tự mà kẻ sẽ trong thiên hạ không chê trẫm là người ít học, nên trẫm đến đây tạ ơn phu tử
Nguyễn Thiếp vừa đỡ vừa vua nói:
- Ấy là bổn phận của thần đối với dân với nước. Nay thần đã hoàn thành sứ mạng dùng chữ Nôm là quốc tự mà Hoàng thượng giao cho, vả lại lão thần tuổi cao sức yếu, xin Hoàng thượng cho về nơi nước biếc non xanh hưu trí tuổi già.
Vua khẩn khoản rằng:
- Nay trẫm mới lên ngôi, thiên hạ chưa định, việc nước chưa yên. Phu tử là người nhìn xa trông rộng lại bỏ trẫm mà đi, ngộ nhỡ trong nước có điều khó xử thì trẫm biết thỉnh cao ý của ai.
Nguyễn Thiếp đáp:
- Nói về tại kinh bang tế thế thì xưa nay không ai bằng Hoàng thượng. Vả lại giúp việc vẫn thì đã có Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ đều là tay tài hoa lỗi lạc. Lo việc võ thì đã có Tây Sơn thập hổ đều là tướng trí dũng song toàn. Song thành bại là do trời mà thôi!
Vua Quang Trung hỏi:
- Ý Phụ tử đã quyết trẫm không dám ép. Trước lúc chia tay trẫm có điều muốn hỏi, xin Phụ tử dậy cho!
Nguyễn Thiếp đáp:
- Xin Hoàng thượng cứ nói.
Vua hỏi:
- Trẫm đã sai sứ sang Mãn Thanh gặp vua Càn Long đòi đất Lưỡng Quảng xưa kia là lãnh thổ của nước Nam ta. Nếu Càn Long không thuận thì sau khi tiêu diệt Nguyễn Phúc Ánh ở Gia Định xong, trẫm sẽ đem quân Bắc tiến đánh Mãn Thanh lấy đất cũ về cho nước ta. Xin hỏi Phu tử hai việc ấy thành bại thế nào?
Nguyễn Thiếp buồn rầu đáp:
- Lão thần định tâm nhìn vào tương lai thấy không có điều bình Nam, Bắc tiến. Lão thần có một bài thơ xin trao Hoàng thượng, đợi lão thần đi rồi Hoàng thượng hãy mở ra xem.
Nói rồi Thiếp vòng tay cáo biệt. Tiễn ra đến xe, vua Quang Trung cầm tay Nguyễn Thiếp hỏi:
- Nguyễn Phúc Ánh ở Gia Định chẳng qua nay mai trẫm chỉ đánh một trận là biết được mà thôi. Có việc đánh Mãn Thanh đòi Lưỡng Quảng, phu tử cho rằng trẫm không làm nổi ư?
Nguyễn Thiếp đáp:
- Cả hai việc ấy Hoàng thượng thừa sức làm.
Vua ngạc nhiên hỏi:
- Vậy cớ gì thầy lại bảo không có điều bình Nam Bắc tiến?
Nguyễn Thiếp đáp:
- Thiên cơ bất khả lậu! Những gì có thể nói thần đều viết trong bài thơ ấy cả. Xin Hoàng thượng hãy giữ gìn long thể.
Đoạn Thiếp ứa nước mắt từ biệt vua mà đi. Còn lại một mình, vua Quang Trung liền giờ thơ ra đọc. Thơ rằng:
Một nước hai vua nặng vai già
Cuộc cờ phú quý pháo ngựa qua
Trời Nam mau gầy cây Sơn giống
Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!
Con thú một sừng gần trở mặt
Mà người chột mắt vẫn không ra
Bao giờ Nhật Nguyệt quang minh hội
Khi ấy du ca rỡ giống nhà.
Đọc xong bài thơ ấy, vua Quang Trung nét mặt dàu dàu lặng lẽ lui về hậu cung, Hoàng hậu Ngọc Hân hỏi:
- Hoàng thượng có điều buồn bực chăng. Sao long nhan lại ủ dột như thế?
Vua Quang Trung đáp:
- Ta hỏi Phu tử về việc đánh Gia Định giết Phúc Ánh và việc đánh Mãn Thanh lấy đất Lưỡng Quảng. Phu tử bảo không thầy có điều binh Nam, Bắc tiến. Phu tử lại trao cho ta bài thơ này. Ta đọc chưa rõ ý ra sao nên trong dạ không vui.
Nói xong vua trao bài thơ cho Lê Hoàng hậu.
Hoàng hậu đọc xong suy nghĩ giây lát rồi bàn rằng:
- "Một nước hai vua nặng vai già,
Cuộc cờ phú quý pháo ngựa qua"
ý muốn nói rằng trong bàn cờ bá vương đã có vua em Quang Trung còn có vua anh Thái Đức. "Nặng vai già" có lẽ ý nói thầy Phu tử không kham nổi nên mới về ở ẩn chăng?
Vua đáp:
- Câu này ta cũng hiểu nghĩa chung là như thế. Vậy hai cậu tiếp theo ý thế nào?
Hoàng hậu đáp:
- Trời Nam mau gầy cây Sơn giống
Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!
vậy Nguyễn Phúc Ánh không bị diệt nên phục quốc. "Gầy cây Sơn giống", ý muốn nói nên gìn giữ dòng giống của nhà Tây Sơn chăng?
Vua Quang Trung giục:
- Hoàng hậu cứ bàn tiếp xem câu thứ tư là ý thế nào.
Hoàng hậu đáp:
- Câu thứ tư là: "Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!". Cột Phúc Ba lá cây cột mà hai ngàn năm trước tướng nhà Hán là Mã Viện trồng ở ranh giới nước ta và nước Tàu. Câu này nghĩa là cột Phúc Ba hãy còn đó thì không có điều Bắc tiến.
Vua Quang Trung trầm ngâm nói:
- Hai câu này đúng ý mà Phụ tử đã nói với ta. Còn các câu sau thế nào?
Lê Hoàng hậu bàn rằng:
- Trong rừng sâu có một loại thú dữ một sừng gọi là Tê giác còn có tên là con Tây. Nay nghe nói người Tây dương theo giúp Phúc Ánh ở Gia Định có lẽ ứng vào câu năm là "Con thứ một sừng gần trở mặt" chăng?
- Còn câu tiếp theo?
- Ba câu sau thiếp thật không hiểu là ý thế nào. Nhưng xét cho cùng lời Phu tử đã lấy gì làm chắc!
Vua Quang Trung buồn rầu nói:
- Lần trước Phu tử đoán trong năm ngày ta đã phá quân Thanh, quả nhiên không sai. Lời Phu tử không thể xem thường. Nhưng việc đang làm ta cứ làm, thành bại là do trời vậy.
Lê Hoàng hậu an ủi vua rằng:
- Việc đánh Phúc Ánh, đàn bà như thiếp cũng biết rằng trăm phần chắc tháng, sao Phu tử lại bảo là không có điều binh Nam? Thiếp e lần này Phu tử lầm lẫn làm cho Hoàng thượng phải phiền muộn. Xin Hoàng thượng hãy vào trong chờ thiếp hầu hạ đừng nên lo lắng làm gì.
Vua vừa đứng lên toan đi theo Lê Hoàng hậu, bỗng quân cận vệ vào báo:
- Tâu Hoàng thượng, tướng quân Đặng Xuân Phong và tướng quân Võ Đình Tú đang đánh nhau ở điện Thái tử.
Vua ngạc nhiên hỏi:
- Có việc ấy thật sao?
Quân đáp:
- Thưa, hai tướng được lệnh Thái tử phải thí võ cho xem nên đánh nhau long trời lở đất.
Vua hầm hầm nổi giận lập tức đến điện Thái tử. Đến nơi thấy Võ Đình Tú dùng côn đồng, Đặng Xuân Phong dùng côn sắt quần nhau chí tử. Thái tử Quang Toản và quan nội thị Bùi Đắc Tuyên cũng bọn quân hầu vỗ tay reo hò inh ỏi. Vua Quang Trung quát lên như sấm rằng:
- Mau dừng tay lại!
Tú và Phong đang đánh nhau; hoảng hốt quăng côn, mọi người đều quỳ thi lễ. Vừa lớn giọng hỏi Tú và Phong:
- Hai khanh đều là đại tướng của ta. Đường côn khai quốc lại đem làm trò vui cho kẻ khác mà không biết thẹn hay sao?
Võ Đình Tú cúi đầu đáp:
- Thái tử lệnh cho thần và Đặng tướng quân đấu võ cho người xem, nên chúng thần không dám không vâng.
Vua gọi Quang Toản đến hỏi:
- Vì sao còn lại làm việc ấy?
Quang Toản lúc ấy mới mười tuổi, Toàn vừa chỉ quan nội thị Bùi Đắc Tuyên vừa tâu rằng:
- Thường ngày cậu theo chơi với con, thấy con phiền muộn cậu bày con gọi tướng quân Võ Đình Tú và Đặng Xuân Phong đấu võ cho con xem.
Vua Quang Trung cả giận quát Bùi Đắc Tuyên rằng:
- Ngươi là cậu ruột của Thái tử nên mới được phong làm quan nội thị trông nom Thái tử. Sao đã xui Thái tử làm điều xằng bậy khinh dễ công thần tội thật đáng chết. Quân bay lôi vào chém!
Quang Toản quỳ khóc van xin:
- Từ ngày Mẫu hậu mất đi, cậu thay mẹ trông nom lo lắng cho con. Nay Phụ hoàng giết cậu thì là ai lo cho con. Xin Phụ hoàng tha cho cậu một phen!
Vua Quang Trung ôm Quang Toản vào lòng nói:
- Nể tình Thái tử ta tha chết cho nhưng phải đánh hai mươi roi làm gương cho kẻ khác. Võ sĩ mau thi hành lệnh ta.
Bùi Đắc Tuyên bị đánh hai mươi rơi vào mông lột da chảy máu đau đớn lắm cà nhắc mà về nhà.

Truyện Tây Sơn bi hùng truyện ---~~~cungtacgia~~~--- !!!9166_55.htm!!!!!!9166_58.htm!!! Đã xem 537491 lần. --!!tach_noi_dung!!--


Chương 57
Chí tự cường, Quang Trung thay quốc tự.
Luận cơ trời, Hoàng hậu bình thơ.

--!!tach_noi_dung!!--
Nói về Nguyễn vương ở Gia Định, ngày ấy nơi thành Sài Côn Nguyễn vương họp các tưởng nói:
- Nay đã đến mùa gió Nồm ta nên đem thuỷ quân thuận gió đánh Quy Nhơn. Các tướng ai có kế gì chăng?
Nguyễn vương vừa dứt lời. Xảy quân do thám vào báo:
- Tâu Thượng vương, đây là tờ hịch của vua em Tây Sơn là Quang Trung Nguyễn Huệ truyền cho dân chúng ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên. Kính trình Thượng vương duyệt lãm.
Nguyễn vương với đón lấy tờ hịch mở ra đọc, hịch rằng:
"Hịch truyền dân chúng ba phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Phú Yên.
Kể từ ngày Tây Sơn dấy nghĩa đến nay nhờ dân ba phủ hết lòng giúp đã nên Hoàng Đại huynh ta mới dựng nên cơ nghiệp lớn. Công lao của nhân dân ba phủ thật đáng lưu truyền vào sử xanh.
Vua rồi nghe Nguyễn Phúc Ánh được bọn người Pháp Lang Sa theo giúp, lại được thần tiên rước lên trời khiến nhân dân nghi ngại bỏ việc nông tang, xôn xao bàn điều thế sự.
Thật ra ấy là bọn Pháp Lang Sa dùng khinh khí cầu bay được lên cao đem chuyện thần tiên phỉnh lừa bá tánh. Ta còn lạ gì khinh khi cầu của bọn chúng! Bọn người mắt xanh mũi lõ, nước da trắng bệch như một xác chết trôi ngoài biển Bắc kia nào có tài cán gì mà dân chúng phải sợ? Ta đã từng đốt cháy tàu của chúng trận sông Thất Kỳ Giang, đuổi Nguyễn Phúc Ánh lội bùn Gia Định mà chạy như một con vịt lạc. Đại quân ta, xưa nay đi đến đâu không kẻ thù nào dám chống cự, không thành trị nào ngăn cản được. Điều này hẳn dân ta cũng đã biết.
Nay đã đến mùa gió Nồm, dân chúng hãy hết lòng giúp đỡ Hoàng Đại huynh ta đề phòng Phúc Ánh đánh ra.
Đợi hết Hạ sang Thu đầu mùa gió Bấc ta sẽ thân chinh kéo đại binh vào Gia Định tiêu diệt bọn Pháp Lang Sa, giết cho được Nguyễn Phúc Ánh, để mầm mống phản loạn không còn manh nha quấy rối, cho nhân dân cả nước được an cư lạc nghiệp.
Nay chiếu.
Quang Trung Nguyên niên"
.
Xem xong Nguyễn vương toát mồ hôi nói:
- Ta những tưởng Nhạc - Huệ bất hoà nước ai nấy lo, không ngờ Huệ lại định đem quân giúp Nhạc đánh ta. Trăm vạn quân Tây Sơn ta không ngại, chỉ ngại có mình Nguyễn Huệ mà thôi.
Võ Tánh hỏi:
- Phải đến mùa gió Bắc Nguyễn Huệ mới đem quân vào đánh ta được. Nay ta nên thuận gió Nồm đánh Nhạc ở Quy Nhơn, hay cũng cố lực lượng chống Nguyễn Huệ.
Nguyễn vương lấy vạt áo lau mồ hôi trán rồi nghiến răng nói:
- Truyền lệnh ta lập tức xuất quân!
Tháng ba năm Nhâm Tý (1792) Nguyễn Vương đem đại binh theo đường biển thuận gió Đông Nam ra đánh Quy Nhơn. Thái tử Tây Sơn là Nguyễn Bảo và cha con Lê Trung, Lê Chất rút thuỷ quân vào đóng trong đầm Thị Nại rồi chia quân giữ các nơi hiểm yếu. Quân Nguyễn vương đánh mãi không được, Nguyễn vương đành kéo quân về Gia Định.
Đến Sài Côn thấy trên bến sông Thị Nghè các giáo sĩ người Pháp Lang Sa rộn ràng đem gia quyến xuống thuyền. Nguyễn vương gọi lại hỏi:
- Ta đã cho các ngài được tự do truyền đạo. Vậy có ai dám kháng lệnh quậy phá các ngài hay sao mà cả ngài lại bỏ đi?
Một giáo sĩ đáp:
- Nay đã gần đến mùa gió Bấc, chúng tôi phải di tản về nước tránh Nguyễn Huệ đem quân vào đánh!.
Nói rồi cả bọn liền từ biệt Nguyễn vương mà đi. Nguyễn Vương vào thành mời các tướng đến thương nghị. Nguyễn vương hỏi:
- Nay Nguyễn Huệ đã hoà với nhà Thanh. Huệ định đến mùa Thu sẽ đem quân đánh ta. Vậy ta nên tiến thủ thế nào.
Mưu sĩ Ngô Tùng Châu bước ra nói:
- Nguyễn Huệ đánh ta tất phải dùng cả thuỷ cả bộ, vậy ta phải chia quân ra giữ hai cửa biển Cần Giờ, Hàm Luông. Bộ quân ta tăng cường trấn thủ Trường Đồn ở phía Nam, Trấn Biên ở phía Bắc thì Thượng vương ở Sài Côn vững như bàn thạch vậy.
Nguyễn vương lo lắng nói:
- Kế này là kế năm xưa Ngô tiên sinh tiến cử Gia Định tam hùng trấn thủ các nơi ấy, nhưng khi Nguyễn Huệ tiến quân vào thì không ai giữ nổi. Nguyễn Huỳnh Đức giữ Hàm Luông thì bị Đặng Văn Long bắt sống, quân ta bại trận khắp nơi. Nay dùng kế ấy e cũng như năm xưa nào có khác gì.
Võ Tánh tức khí bước ra nói lên:
- Tuy kế sách chống giữ cũng như nhau nhưng quân tình có khác. Phen này phải đánh thắng Nguyễn Huệ mới được!
Nguyễn vương hỏi:
- Quân tình khác ở chỗ nào?
Tánh đáp:
- Lúc ấy quân ta mới mộ, còn này tướng sĩ đã thiện chiến. Lúc ấy vũ khí thô sơ, còn nay người Pháp giúp ta tàu đồng, đại bác. Vả lại lúc ấy thần cố an thân ở rừng Tam Phụ, nay thần đã quyết lòng đánh giặc lập công chuộc tội, báo đáp ơn trị ngộ của Thượng vương. Ấy là ba điểm khác nhau của quân tình vậy.
Nguyễn vương nghe thế tạm an lòng. Từ ấy ngày đêm rèn luyện quân sĩ chờ quân Tây Sơn đến đánh.
Nói về vua Quang Trung ở Phú Xuân sai Vũ Văn Dũng đi sứ Mãn Thanh rồi, vua bàn với Trần Văn Kỷ rằng:
- Quân ta từ trước đến nay chỉ là người tình nguyện xung phong làm lính. Nay ta muốn tuyển thêm quân để dự phòng đánh Mãn Thanh, vậy phải làm thế nào?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Số người còn lại không muốn đi lính vì nặng óc trung quân, cho rằng Hoàng thượng không phải dòng chính thống. Nay nếu ta cứ bắt lính bừa bài e náo động nhân tâm.
Vua hỏi:
- Vì sao lại náo động nhân tâm.
Kỷ đáp:
- Số người không muốn đầu quân khi bị bắt lính trốn từ làng này sáng làng khác. Nếu Hoàng thượng xuống lệnh bắt gắt gao e rằng bọn hương lý thừa cơ hội ấy sách nhiễu lương dân nên náo động nhân tâm là do thế.
Đêm ấy vua Quang Trung trằn trọc mãi. Hôm sau vừa gọi Trần Văn Kỷ đến hỏi:
- Nếu ta có cách bắt lính mà vẫn giữ được kỷ cương khiến kẻ nhút nhát không thể trốn việc đầu quân, và bọn hào lý không thể sách nhiều dân lành được thì thế nào?
Trần Văn Kỷ lại hỏi vua rằng:
- Xin hỏi Hoàng thượng ấy là cách nào?
Vua Quang Trung đáp:
- Ta lệnh cho dân trong nước mỗi người phải đeo một cái thẻ bài để bốn chữ "Thiên Hạ Đại Tín". Trong thẻ bài ấy phải ghi rõ tên, họ và tuổi tác. Hễ ai có thẻ bài là dân trong nước của ta, rồi cứ ba tráng đinh kén lấy một người đầu quân, nhờ đó không ai có thể trốn tránh được và hào lý địa phương cũng không có cớ gì sách nhiễu dân lương thiện có thẻ bài. Nếu vậy chắc chắn tuyển được thêm quân và kỷ cương pháp luật được giữ vững. Trần tiên sinh thấy thế nào?
Trẫm Văn Kỷ vòng tay nói:
- Ấy thật là kế sách vẹn toàn. Hoàng thượng có tài kinh bang tế thế xưa nay chưa từng thấy vậy.
Vua Quang Trung trầm ngâm nói:
- Nước Nam ta đất rộng dân thưa. Nay ta muốn mũ xuống hịch khuyến nông xuất ngân khố nhà nước giúp đỡ dân nghèo khai khẩn đất hoang thì mới mong dân giàu nước mạnh đề đối chọi với Mãn Thanh phương Bắc và bọn Pháp Lang Sa ở miền Nam được. Vậy phiền Trần tiên sinh hãy soạn hịch khuyến nông truyền khắp trong nước.
Trần Văn Kỷ tuân lệnh lập tức thi hành.
Hôm sau vua Quang Trung giả dạng dân thường đem theo Võ Đình Tú và Trần Văn Kỷ ra ngoài thành xem xét. Đến một thôn trang kia, thấy dân chúng trong thôn tụ tập ở sân đình nghe quan chánh thôn đọc chiếu khuyên nông.
Vua Quang Trung bảo Võ Đình Tú và Trần Văn Kỷ:
- Ta mau đến gần xem thử quan lại các cấp thi hành pháp lệnh thế nào.
Vua tôi tới nơi vừa lúc quan chánh thôn đã đọc xong bài hịch rồi. Một cụ già bước ra hỏi:
- Chiếu vừa ban ra quan trên đọc bảng tiếng Hán. Dan đen chúng tôi ít học nên không hiểu, nhờ quan trên dịch nghĩa Nôm cho thì dân chúng tôi mới biết trong chiếu vừa nói gì.
Quan chánh thôn đáp:
- Lệnh vua ban ra bảo đọc chiếu chứ không bảo dịch chiếu. Các ngươi muốn hiểu thì tự đi học lấy chữ Thánh hiền.
Nói xong quan chánh thôn liền bỏ về. Vua Quang Trung hỏi cụ giá ấy:
- Vậy cụ phải nhờ ai địch chiếu của vua.
Cụ già đáp:
- Nhờ quan chánh thôn chứ còn ai nữa.
Vua ngước nhìn hỏi:
- Lúc này quan đã không chịu dịch rồi kia mà.
Cụ già cười đáp:
- Cứ đến nhà riêng mang theo lễ vật, quân lập tức dịch ngay.
Nghe xong vua Quang Trung lẳng lặng ra về. Trên đường về Trần Văn Kỷ bàn:
- Hoàng thượng nên xuống hịch cho quan sở tại có bổn phận phải dịch Nôm cho dân chúng nghe thì tránh được tình trạng quan lại thừa kẽ hở của pháp luật mà nhận quà cáp của dân.
Vua Quang Trung bảo:
- Ta có cách không cần phải ra lệnh cho quan sở tại dịch Nôm, mà họ vẫn phải đọc chiếu của vua bằng tiếng Nôm của ngươi Nam ta cho dân chúng hiểu được.
Trần Văn Kỷ hỏi:
- Thưa, ấy là cách gì?
Vua Quang Trung vừa đi đến đoạn đường có nhánh cây to bằng bắp chân đâm ngang chặn lỗi, vua đưa tay vận sức bẻ nhánh cây ấy xuống và nói:
- Thay đổi quốc tự!
Văn Kỷ giật mình hỏi:
- Thế nào là thay đổi quốc tự?
Vua đáp:
- Từ nay về sau không dùng chữ Hán của người Tàu mà dùng chữ Nôm của ngươi Nam ta viết chiếu chỉ, văn thư.
Văn Kỷ lo lắng hỏi:
- Nhưng nước Nam ta từ mấy ngàn năm nay trải quả bao triều đại đều dùng chữ Hán làm quốc tự. Nay Hoàng thượng đổi quốc tự e không thuận lòng người. Xin Hoàng thượng nên thận trọng xem xét lại.
Vua Quang Trung ném nhánh cây xuống đất đáp:
- Ta đã suy xét từ lúc tóc còn để chỏm. Nay thả canh dần ta dùng chữ Hán làm quốc tự gặp bao điều rắc rối ta càng quyết tâm hơn. Văn Kỷ hãy truyền hịch khắp thiên hạ từ nay trở đi dùng chữ Nôm làm quốc tự.
Trần Văn Kỷ tuân lệnh theo ý vua mà làm. Chiếu lệnh được ban ra. Hôm sau vua Quang Trung và Võ Đình Tú, Trần Văn Kỷ lại giả dạng dân thường a ngoài thành xem xét. Đến chỗ đông người nghe một nho sĩ nói lên rằng:
- Vua Quang Trung không học sách Thánh hiền mà hạ lệnh dùng chữ Nôm làm quốc tự thay chữ Hán.
Võ Đình Tú nghe vậy nổi giận phừng phừng, vùng tung người nhảy đến chỗ tên nho sĩ vừa nói. Vua Quang Trung lẹ mắt nhảy vội theo chụp được bàn chân Võ Đình Tú kéo xuống đất. Vua quở:
- Khi chưa có lệnh ta không được làm càn.
Võ Đình Tú tức tối, nói:
- Tên hủ nho buông lời phạm thượng. Xin để thần bắt nó đến chỗ Hoàng thượng trị tội.
Vua Quang Trung gạt đi bảo:
- Đã nói họ là hủ nho còn chấp họ làm gì. Mau theo ta về cung.
Về cung, vua hỏi Trần Văn Kỷ:
- Kẻ hủ nho trong thiên hạ không phải là ít. Nay họ đặt điều nói gièm e không lợi cho ta. Theo tiên sinh ta phải đối phó bằng cách nào?
Trần Văn Kỷ đáp:
- Việc này thật thần chưa từng gặp. Xin Hoàng thượng hãy vấn kế Ngô Thì Nhậm xem sao.
Vua trầm ngâm bảo:
- Ngô Thì Nhậm đang cùng Văn Sở, Văn Lân, Văn Tuyết trấn thủ Bắc Hà. Ta phải triệu Thì Nhậm về ngay mới được.
Đoạn vua viết chiếu lệnh sai quân gặp ra Thăng Long. Về đến Phú Xuân gặp vua Quang Trung, Ngô Thì Nhậm hiến kế:
- Kẻ sĩ trong thiên hạ đều tâm phục khẩu phục một người, xem như bậc thầy tôn làm phụ tử, ấy là La Sen Nguyễn Thiếp. Nay Hoàng thượng mời Nguyễn Thiếp ra chủ trì việc thay đổi quốc tự, tất kẻ hủ nho không còn ai dám buông lời gièm xiểm.
Vua Quang Trung mừng rỡ vỗ tay khen:
- Ngô tiên sinh thật là cao kiến. Vậy phiền khanh đến mời phu tử một phen.
Ngô Thì Nhậm tuân lệnh sớm sứa lên đường.
Nói về La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp ở Hành Âm cốc ngày ấy đang tham thiền nhập định bỗng giật mình gọi tiểu đồng đến bảo:
- Ngươi mau dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị hương ở cho ta tiếp chỉ của vua.
Tiểu đồng vừa làm xong thì Ngô Thì Nhậm đến đọc chiếu mời của vua. Nguyễn Thiếp vui vẻ nói:
- Xin ngài chờ cho một lát. Tôi vào trong thu xếp rồi sẽ đi ngay.
Vào trong tiểu đồng hỏi Nguyễn Thiếp:
- Vua Quang Trung lần trước mời thầy vấn kế đánh Mãn Thanh, thấy đi rồi lại quay về. Lần này thầy đi bao giờ mới về?
Nguyễn Thiếp đáp:
- Hết Hạ sang Thu, đầu mùa gió Bấc ta sẽ quay về.
Tiểu đồng lại hỏi:
- Thày đi lo việc thay đổi quốc tự sao mới hai tháng quay về.
Thiếp buồn rầu đáp:
- Ta mười làm năm ở ăn học phép tham thiền biết điều quá khứ vi lại. Vua Quang Trung là người nhìn xa trông rộng, yêu nước thương dân, lo toan chính sự chuyên tâm cải cách. Nhưng ta định tâm nhìn vào tương lai thấy mọi sự đều bất thành. Thật là đáng tiếc.
Tiểu đồng ngạc nhiên hỏi:
- Thấy biết việc không thành sao còn nhận lời ra giúp vua.
Thiếp trầm ngâm đáp:
- Ta thường dạy học trò rằng: "Quốc giá hưng vong. Thất phu hữu trách". Việc vua thay đổi quốc tự dù không thành nhưng tiếng để ngàn thu. Nếu ta không giúp người đời sau sẽ bảo ta không bằng kẻ thất phu sao.
Nói rồi liền chống gậy ra xe theo Ngô Thì Nhậm về kinh yết kiến vua Quang Trung. Vua Quang Trung phong Nguyễn Thiếp làm viện trưởng Sùng Chính Viện, chiêu tập kẻ thức giả trong nước vào làm việc trong viện, dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm để truyền dậy dân chúng. Kẻ sĩ lúc bây giờ bảo nhau rằng:
- La Sơn phu tử là người chẳng thiết công danh không màng sinh tử nên vua vời đã ba lần mà ông ta không ra giúp. Nay phu tử là bậc thầy của bọn ta lại ra giúp vua thay đổi quốc tự tất việc này phải có ý nghĩ gì đây. Bọn ta không hiểu thời thôi, chớ bình phẩm vô tội vạ kẻo thiên hạ cười ta là kẻ chẳng biết gì.
Vua Quang Trung nghe những lời ấy bèn đến Sùng Chính Viện thi lễ với Nguyễn Thiếp, vua nói:
- Xin thầy hãy nhận của trẫm một lạy này.
Thiếp thất kinh vội can:
- Hoàng thượng là thiên tử sao lại làm thế cho lão thần mang tội với trời đất.
Vua Quang Trung nói:
- Nhờ thầy ra giúp việc thay quốc tự mà kẻ sẽ trong thiên hạ không chê trẫm là người ít học, nên trẫm đến đây tạ ơn phu tử
Nguyễn Thiếp vừa đỡ vừa vua nói:
- Ấy là bổn phận của thần đối với dân với nước. Nay thần đã hoàn thành sứ mạng dùng chữ Nôm là quốc tự mà Hoàng thượng giao cho, vả lại lão thần tuổi cao sức yếu, xin Hoàng thượng cho về nơi nước biếc non xanh hưu trí tuổi già.
Vua khẩn khoản rằng:
- Nay trẫm mới lên ngôi, thiên hạ chưa định, việc nước chưa yên. Phu tử là người nhìn xa trông rộng lại bỏ trẫm mà đi, ngộ nhỡ trong nước có điều khó xử thì trẫm biết thỉnh cao ý của ai.
Nguyễn Thiếp đáp:
- Nói về tại kinh bang tế thế thì xưa nay không ai bằng Hoàng thượng. Vả lại giúp việc vẫn thì đã có Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ đều là tay tài hoa lỗi lạc. Lo việc võ thì đã có Tây Sơn thập hổ đều là tướng trí dũng song toàn. Song thành bại là do trời mà thôi!
Vua Quang Trung hỏi:
- Ý Phụ tử đã quyết trẫm không dám ép. Trước lúc chia tay trẫm có điều muốn hỏi, xin Phụ tử dậy cho!
Nguyễn Thiếp đáp:
- Xin Hoàng thượng cứ nói.
Vua hỏi:
- Trẫm đã sai sứ sang Mãn Thanh gặp vua Càn Long đòi đất Lưỡng Quảng xưa kia là lãnh thổ của nước Nam ta. Nếu Càn Long không thuận thì sau khi tiêu diệt Nguyễn Phúc Ánh ở Gia Định xong, trẫm sẽ đem quân Bắc tiến đánh Mãn Thanh lấy đất cũ về cho nước ta. Xin hỏi Phu tử hai việc ấy thành bại thế nào?
Nguyễn Thiếp buồn rầu đáp:
- Lão thần định tâm nhìn vào tương lai thấy không có điều bình Nam, Bắc tiến. Lão thần có một bài thơ xin trao Hoàng thượng, đợi lão thần đi rồi Hoàng thượng hãy mở ra xem.
Nói rồi Thiếp vòng tay cáo biệt. Tiễn ra đến xe, vua Quang Trung cầm tay Nguyễn Thiếp hỏi:
- Nguyễn Phúc Ánh ở Gia Định chẳng qua nay mai trẫm chỉ đánh một trận là biết được mà thôi. Có việc đánh Mãn Thanh đòi Lưỡng Quảng, phu tử cho rằng trẫm không làm nổi ư?
Nguyễn Thiếp đáp:
- Cả hai việc ấy Hoàng thượng thừa sức làm.
Vua ngạc nhiên hỏi:
- Vậy cớ gì thầy lại bảo không có điều bình Nam Bắc tiến?
Nguyễn Thiếp đáp:
- Thiên cơ bất khả lậu! Những gì có thể nói thần đều viết trong bài thơ ấy cả. Xin Hoàng thượng hãy giữ gìn long thể.
Đoạn Thiếp ứa nước mắt từ biệt vua mà đi. Còn lại một mình, vua Quang Trung liền giờ thơ ra đọc. Thơ rằng:
Một nước hai vua nặng vai già
Cuộc cờ phú quý pháo ngựa qua
Trời Nam mau gầy cây Sơn giống
Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!
Con thú một sừng gần trở mặt
Mà người chột mắt vẫn không ra
Bao giờ Nhật Nguyệt quang minh hội
Khi ấy du ca rỡ giống nhà.
Đọc xong bài thơ ấy, vua Quang Trung nét mặt dàu dàu lặng lẽ lui về hậu cung, Hoàng hậu Ngọc Hân hỏi:
- Hoàng thượng có điều buồn bực chăng. Sao long nhan lại ủ dột như thế?
Vua Quang Trung đáp:
- Ta hỏi Phu tử về việc đánh Gia Định giết Phúc Ánh và việc đánh Mãn Thanh lấy đất Lưỡng Quảng. Phu tử bảo không thầy có điều binh Nam, Bắc tiến. Phu tử lại trao cho ta bài thơ này. Ta đọc chưa rõ ý ra sao nên trong dạ không vui.
Nói xong vua trao bài thơ cho Lê Hoàng hậu.
Hoàng hậu đọc xong suy nghĩ giây lát rồi bàn rằng:
- "Một nước hai vua nặng vai già,
Cuộc cờ phú quý pháo ngựa qua"
ý muốn nói rằng trong bàn cờ bá vương đã có vua em Quang Trung còn có vua anh Thái Đức. "Nặng vai già" có lẽ ý nói thầy Phu tử không kham nổi nên mới về ở ẩn chăng?
Vua đáp:
- Câu này ta cũng hiểu nghĩa chung là như thế. Vậy hai cậu tiếp theo ý thế nào?
Hoàng hậu đáp:
- Trời Nam mau gầy cây Sơn giống
Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!
vậy Nguyễn Phúc Ánh không bị diệt nên phục quốc. "Gầy cây Sơn giống", ý muốn nói nên gìn giữ dòng giống của nhà Tây Sơn chăng?
Vua Quang Trung giục:
- Hoàng hậu cứ bàn tiếp xem câu thứ tư là ý thế nào.
Hoàng hậu đáp:
- Câu thứ tư là: "Đất Bắc hãy còn cột Phúc Ba!". Cột Phúc Ba lá cây cột mà hai ngàn năm trước tướng nhà Hán là Mã Viện trồng ở ranh giới nước ta và nước Tàu. Câu này nghĩa là cột Phúc Ba hãy còn đó thì không có điều Bắc tiến.
Vua Quang Trung trầm ngâm nói:
- Hai câu này đúng ý mà Phụ tử đã nói với ta. Còn các câu sau thế nào?
Lê Hoàng hậu bàn rằng:
- Trong rừng sâu có một loại thú dữ một sừng gọi là Tê giác còn có tên là con Tây. Nay nghe nói người Tây dương theo giúp Phúc Ánh ở Gia Định có lẽ ứng vào câu năm là "Con thứ một sừng gần trở mặt" chăng?
- Còn câu tiếp theo?
- Ba câu sau thiếp thật không hiểu là ý thế nào. Nhưng xét cho cùng lời Phu tử đã lấy gì làm chắc!
Vua Quang Trung buồn rầu nói:
- Lần trước Phu tử đoán trong năm ngày ta đã phá quân Thanh, quả nhiên không sai. Lời Phu tử không thể xem thường. Nhưng việc đang làm ta cứ làm, thành bại là do trời vậy.
Lê Hoàng hậu an ủi vua rằng:
- Việc đánh Phúc Ánh, đàn bà như thiếp cũng biết rằng trăm phần chắc tháng, sao Phu tử lại bảo là không có điều binh Nam? Thiếp e lần này Phu tử lầm lẫn làm cho Hoàng thượng phải phiền muộn. Xin Hoàng thượng hãy vào trong chờ thiếp hầu hạ đừng nên lo lắng làm gì.
Vua vừa đứng lên toan đi theo Lê Hoàng hậu, bỗng quân cận vệ vào báo:
- Tâu Hoàng thượng, tướng quân Đặng Xuân Phong và tướng quân Võ Đình Tú đang đánh nhau ở điện Thái tử.
Vua ngạc nhiên hỏi:
- Có việc ấy thật sao?
Quân đáp:
- Thưa, hai tướng được lệnh Thái tử phải thí võ cho xem nên đánh nhau long trời lở đất.
Vua hầm hầm nổi giận lập tức đến điện Thái tử. Đến nơi thấy Võ Đình Tú dùng côn đồng, Đặng Xuân Phong dùng côn sắt quần nhau chí tử. Thái tử Quang Toản và quan nội thị Bùi Đắc Tuyên cũng bọn quân hầu vỗ tay reo hò inh ỏi. Vua Quang Trung quát lên như sấm rằng:
- Mau dừng tay lại!
Tú và Phong đang đánh nhau; hoảng hốt quăng côn, mọi người đều quỳ thi lễ. Vừa lớn giọng hỏi Tú và Phong:
- Hai khanh đều là đại tướng của ta. Đường côn khai quốc lại đem làm trò vui cho kẻ khác mà không biết thẹn hay sao?
Võ Đình Tú cúi đầu đáp:
- Thái tử lệnh cho thần và Đặng tướng quân đấu võ cho người xem, nên chúng thần không dám không vâng.
Vua gọi Quang Toản đến hỏi:
- Vì sao còn lại làm việc ấy?
Quang Toản lúc ấy mới mười tuổi, Toàn vừa chỉ quan nội thị Bùi Đắc Tuyên vừa tâu rằng:
- Thường ngày cậu theo chơi với con, thấy con phiền muộn cậu bày con gọi tướng quân Võ Đình Tú và Đặng Xuân Phong đấu võ cho con xem.
Vua Quang Trung cả giận quát Bùi Đắc Tuyên rằng:
- Ngươi là cậu ruột của Thái tử nên mới được phong làm quan nội thị trông nom Thái tử. Sao đã xui Thái tử làm điều xằng bậy khinh dễ công thần tội thật đáng chết. Quân bay lôi vào chém!
Quang Toản quỳ khóc van xin:
- Từ ngày Mẫu hậu mất đi, cậu thay mẹ trông nom lo lắng cho con. Nay Phụ hoàng giết cậu thì là ai lo cho con. Xin Phụ hoàng tha cho cậu một phen!
Vua Quang Trung ôm Quang Toản vào lòng nói:
- Nể tình Thái tử ta tha chết cho nhưng phải đánh hai mươi roi làm gương cho kẻ khác. Võ sĩ mau thi hành lệnh ta.
Bùi Đắc Tuyên bị đánh hai mươi rơi vào mông lột da chảy máu đau đớn lắm cà nhắc mà về nhà.
--!!tach_noi_dung!!--


Được bạn: đưa lên
vào ngày: 19 tháng 5 năm 2007

--!!tach_noi_dung!!-- --!!tach_noi_dung!!-- --!!tach_noi_dung!!--