(Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương)
Phần XIV

Nhân vật con trâu.- Dù là trong hình thức tôn giáo nào, thì trung tâm cũng là lễ hiến tế; ỏ Tây Nguyên, hiến tế con trâu là hành vi cúng tế cao nhất, đến mức có thể nói việc hiến tế các loài khác, dê, lợn, gà chỉ là những sao chép ở bậc thấp hơn. Ấy là vì con trâu không phải là một con vật như những con vật khác. Trong nhiều truyền thuyết, ta thấy nó được xem như một con người; cho đến tận ngày nay, nó vẫn có một cái tên như con người, mà nó là người bạn lao động tốt nhất. Nó là một nhân vật vừa của Truyền thống vừa của làng hôm nay, nhất là trong thời điểm của lễ hiến tế lớn, khi nó là đại diện cho gia đình, là nạn nhân trung thành và rất được trọng vọng.
Trong khi gà hay dê chỉ là đại diện hết sức không trực tiếp cho con người trong hành vi hiến tế sự sống, thì dưới mắt các Thần, ngay từ trong bản chất của nó, con trâu đã mang hình ảnh của con người.
Chúng tôi sẽ không mô tả ở đây vô số những chi tiết của một lễ hiến tế đó. Ở đây chúng ta chỉ sẽ tập trung vào tinh thần của nghi lễ. Cho đến lúc bị giết chết, con trâu được chăm lo săn đón hết sức ân cần; nó còn được cho nếm cả giọt rượu cần cuối cùng của người bị kết án chết. Ở vùng Xơđăng, cả gia đình chui qua dưới bụng con trâu; đàn bà còn trẻ thi chui qua dưới đuôi nó. Ở nhiều tộc người, người ta tiến hành một đám rước có nhạc quanh con trâu. Con trâu-sứ giả có sứ mệnh dâng lên các Thần nhận lấy linh hồn nó những lời ta thán và cầu xin của gia đình người hiến tế. Khi con vật đã bị giết, thịt được đem chia và diễn ra bữa ăn cộng cảm tập họp cả gia đình, những người khách (có khi cả làng) và các Yang, cùng chính cả con trâu nữa mà thực thể đã được đồng hóa trong những người dự tiệc. Máu của con vật, là nơi trú ngụ và dấu hiệu của sự sống, được đem bôi lên những nơi cốt tử trên cơ thể con người (đầu, cùi tay, đầu gối) để hoàn thiện biểu tượng về sự thể hiện "thánh lễ" máu, biểu hiện cái dòng chảy duy nhất của sự sống làm sống động cả vũ trụ được sáng tạo bởi các Thần.
Ta có thể nghĩ phải chăng việc dùng một con trâu, coi như một con người được ủy thác, để đại diện cho con người tôn giáo, có liên quan với một hệ thống tô-tem xưa mà nay ta đang chứng kiến một tàn dư. Quả nhiên, ta thấy trong phônclo rất nhiều liên quan giữa người và các loài vật; ta cũng có thể nhận thấy điều đó trong các hiện tượng tái đầu thai. Nhưng chúng ta không thể khẳng định đó là thuộc hệ thống tô-tem; cũng như không thể khẳng dịnh như vậy khi thấy trong Truyền thống Kinh Thánh, một ông vua được gọi là một con sư tử. Theo chúng tôi đây dường như là một hệ quả của quan niệm về vũ trụ mà chúng ta đã nhận ra qua tất cả các tín ngưỡng, các giai đoạn của cuộc sống và các thế giới khác nhau thường xuyên liên hệ với nhau. Cha Kemlin trong nghiên cứu của mình về người Rơngao cũng kết luận theo hướng này: "Sự kết giao giữa con người với một số thần động vật và cây cỏ không phải là một tàn dư của một tổ chức hệ thống tô-tem xưa, mà theo tôi là còn nguyên thủy hơn nhiều... [Người Tây Nguyên kết giao với các Thần cũng hoàn toàn giống như kết giao với người ; họ sẽ kết giao với] Thần nước, Thần rừng, Thần núi, Thần súc vật... Họ sẽ kết anh em với các Thần ấy bằng giao ước máu".
Kẻ làm bung xung.- Các Thần không phải là những người duy nhất được hưởng các vật hiến sinh. Ðôi khi các Caa, hay Kia, tức các Ma, đòi con người phải để cho chúng tham gia lễ cúng mà những kẻ tôi tớ bị đày đọa phải dâng cho chúng. Khi đó việc hiến sinh mang một tính chất hoàn toàn khác; vẫn là một hành vi tham gia bằng đại diện, nhưng sứ giả toàn quyền ở đây đã thật sự thành một kẻ bung xung, có nhiệm vụ đánh lừa sự chú ý nguy hiểm của Ma, bằng một mô phỏng hiến sinh, một nghi lễ vờ.
Bọn Caa là những con Ma làm chết người bằng cách "ăn" những người sống bị nhằm đến. Cho nên, trong trường hợp ốm nặng, phải cấp tốc làm cho chúng nguôi bằng cách đánh lừa sự thèm ăn của chúng. Ở vùng Srê, tục lệ như sau: khi một thành viên trong gia đình bị ốm có cơ nguy hiểm, trước hết những người thân của anh ta làm một lễ hiến sinh cầu phúc với các Yang. Máu con vật hiến sinh sau đó được rưới lên một hình con dê, làm bằng những miếng tre, dùng để giả làm con dê đối với Caa; đối với Caa, đó là một hình ảnh của linh hồn người ốm. Kẻ bung xung tượng trưng đó, bê törla, sau đó được mang ra đường, thông thường là gần nhà, rất xa bên ngoài làng nếu là người phù thủy chỉ dẫn nghi lễ này. Như vậy căn bệnh đã "ra khỏi" nhà và người bệnh đã giải phóng một hình thức linh hồn của anh ta để thỏa mãn con Ma vẫn chực theo anh ta. Con Caa vẫn lảng vảng quanh làng, chực ăn thịt anh ta, sẽ dừng lại ở cái hình được bày công khai đó và để yên cho người đó cử nó ra thay mình.
Người Xơđăng biết một lối vờ tương tự; nhưng kẻ bung xung là một con trâu mà người ta nặn hình mẫu bằng đất sét.
Lịch Ngày lành.- Huyền thoại về Sörden, kẻ đã dạy cho con người các kỹ thuật, còn nói về nghệ thuật phân biệt ngày tốt và ngày xấu. Sörden dạy thế này: "Ngày đầu của tuần trăng, hãy đi bắn con lợn rừng bằng ná; ngày thứ ba của tuần trăng, hãy đi bắn con gấu; ngày thứ sáu của tuần trăng, anh có thể mãi đi tìm bắn con nai hoàng tử (con nai huyền thoại chưa ai từng gặp), anh chẳng bao giờ bắn được nó dẫu là trong bụi rậm nhất. Các ngày lẻ (theo tuần trăng), anh làm việc gì cũng thành; buổi sáng anh sẽ làm ruộng, buổi chiều anh sẽ làm ruộng, ban đêm anh đi tìm trâu..."
Quy tắc lớn là ngày lẻ thì tốt, ngày chẵn thì xấu. Từ le vừa có nghĩa là tốt, hạnh phúc, lẻ; sou le, là số chẵn; ngai le, ngày chẵn, tức là ngày tốt, và rộng ra ngày lành, gặp may, thành công. Ngai yu, đấy là ngày chẵn theo tuần trăng, ngày thất bại.
Chặt tre để dùng trong nhà, nên chặt vào ngày lẻ; chặt vào ngày chẵn, thì mối và bọ đầu dài ăn hết mọi thứ.
Việc làm đồng, như cày, đòi hỏi nhiều ngày, nên không cần tính đến ngày tốt; nhưng gieo mạ, chỉ mất một ngày, thì phải chú ý chuyện này: ngày thứ nhất hay thứ ba trăng thượng huyền, ngày thứ nhất, thứ ba, thứ năm, thứ bảy hay thứ chín trăng hạ huyền (tốt hơn). Thời gian tốt hơn cả là trăng rằm. Lúa gieo vào ngày xấu sẽ bị chuột ăn hết. Ngày cuối cùng tuần trăng, không ai ra làm đồng.
Khi đi chơi, đi mua bán, giải quyết công việc, phải chọn ngày tốt thì mới thành công.
Ðánh cá và săn bắn ngày chẵn thì được, ngày lẻ thì trắng tay.
Ðấy là quy tắc chung. Tuy nhiên, nếu một người sinh vào ngày chẵn và còn nhớ, thì ngày ấy đối với anh ta là xấu. [1]
Cũng như ngày, cũng có tháng xấu tháng tốt. Các tháng được tính từ lễ Lirbong, tức Năm mới của Tây Nguyên xấp xỉ một tháng sau Tết của người Việt và Trung Hoa. Tháng thứ năm thích hợp với việc tỉa lúa, và tháng thứ tám mọi việc gieo trồng đều xấu.
Việc kiêng kỵ và sợ sét.- Các nghi thức là những sự tham gia vào việc tổ chức thế giới, theo quan điểm của các Thần. Ðối với con người, vấn đề là phải tương hợp với ý nghĩ của các Thần linh đó, phải tôn trọng trật tự mà các vị đã định trước, tham dự vào sự hài hòa chung, không sai lệch. Bên cạnh các nghi thức tích cực, lặp lại các mẫu gốc, đương nhiên còn có những nghi thức tiêu cực, những hành vi bị cấm, những sự mất trật tự, phải tránh để giữ lấy trật tự truyền thống của mọi sự vật. Có rất nhiều điều kiêng kỵ: kiêng kỵ đơn giản trong lời nói (abany), những điều kiêng (wer) khi vi phạm thì phải có sửa chữa để trở lại chuẩn mực mà sự toàn vẹn đã bị phá vỡ, những điều cấm kỵ kỳ lạ đe dọa bị phạt tội bị sét đánh đối với những kẻ có những sự kết hợp bất chính, ngược với vận hành chính đáng của thế giới. Các nghi thức tiêu cực này liên quan chặt chẽ đến hệ huyền thoại về bọn ma quỷ (Caa), chuyên làm lỗi nhịp sự hài hòa toàn vẹn của các Yang, và, do đó, ám lấy con người.
Ta có thể coi các nghi thức tiêu cực, các nỗi sợ, các điều kiêng kỵ đó là những điều mê tín, bên cạnh tôn giáo. Cũng trong mọi điểm khác của công trình nghiên cứu này, ở đây chúng tôi chỉ nhìn sự vật theo quan điểm của người Tây Nguyên; mà đối với họ, thì những hiện tượng đó là bộ phận gắn liền của tôn giáo. Tất cả vấn đề là phải ngot Yang, duh Yang, "phục vụ các Thần một cách sợ sệt".
Những điều kiêng cữ thuộc cấp thấp, ít nghiêm trọng hơn, chỉ là những điều không phải phép (abany) trong đó có một tầm mức tôn giáo có phần không rõ rệt. Như không được gọi tên bố mẹ vì như vậy là bất hiếu; không được buôn bán khi bắt đầu dựng nhà (Xơđăng) vì như thế là không đúng trật tự; không được lấp tổ mối (Srê),vì như thế là quấy rầy Ndu; khi muốn uống nước thì không được nói là khát, vì như vậy sẽ có nguy cơ không gặp được nước; không được xếp các cần dùng để uống rượu ở lối ra vào nhà, vì như vậy là không tôn kính, mà phải đặt chúng "trên chỗ cao" trong nhà; không được nhét phía đầu to của các cành lá vào ghè rượu trước khi uống (Srê), v.v. Có thể kể các điều kiêng đến đầy cả một cuốn sách dày, cho đến chán ngấy.
Những điều "kiêng cữ" thực sự, wer (Srê), dien (Bana), ding (Xơdăng) ít ra cũng nhiều bằng thế là những sự hạn chế tự do; vi phạm chúng sẽ là tội nặng và có thể gây họa lớn, bởi như thế là đi ngược lại trật tự của thế giới. Ðối tượng của những điều cấm đó có thể là ngôi nhà, kho lúa, công việc lao động, thức ăn, hay việc chăn nuôi. Khi một ngôi nhà bị wer, chỉ những người trong gia đình mới được vào đó. Một căn nhà sẽ bị wer khi người ta uống một loại thuốc gì đó (một người lạ sẽ mang vào những mầm bệnh), khi một người đàn bà sinh đẻ (kiêng trong bảy ngày, để bọn Caa không lọt vào) [2], khi làm một số lễ hiến sinh nào đấy (ba hay bảy ngày wer), khi con lợn nái đẻ (cũng là để tránh ma tìm cách ăn con vật mới sinh), sau lễ rửa chân trâu sau khi kết thúc công việc đồng áng (người lạ vào bị coi như là muốn chiếm con vật đã nghĩ việc), v.v.
Cấm bước vào kho lúa không có lý do, ít ra cũng phải có hiến tế.
Trong một số làng Srê, việc kiêng không được lạo động đôi khi gắn với việc nhà bị kiêng; thông thường là kiêng bảy ngày sau lễ tang. Ở vùng Êđê, việc kiêng cử được dở bỏ bớt một phần sau ngày thứ ba, và được dở bỏ hoàn toàn sau ngày thứ bảy.
Không có những món ăn nói chung bị cấm, tức không có những điều cấm kỵ liên quan đến một tô-tem, nếu quả có tô-tem. Một số thức ăn bị cấm đối với một số người nào đó trong một số trường hợp: như cấm người Chủ đất, könrany không được ăn thịt ở ruộng, Thần Lúa sẽ nổi giận vì cho rằng lúa không đủ ăn.
Có cả việc cấm nuôi con dê đã leo lên mái nhà, cấm nuôi một lứa ba con lợn con (do truyền thuyết Srê về Plung Plo, kể chuyện một người nuôi một lứa như vậy đã bị chết đuối); Người Xơđăng thì kiêng nuôi một lứa lợn con toàn cùng một giống, nuôi một con lợn đã đi vào nhà, v.v.
Nhiều điều trong số các cấm kỵ đó rõ ràng nhằm tránh gây ra lộn xộn trong sự hài hòa của vũ trụ. Nguồn gốc và lý do của những điều khác được giải thích trong huyền thoại sau đây: "Khi tổ tiên chúng ta lần đầu tiên kết thúc công việc đồng áng của các cụ, các cụ nghỉ ngơi bảy ngày để ăn mừng... và chúng ta cũng tiếp tục làm theo đúng như các cụ" (cũng như vậy sau khi các cụ sinh con lần đầu tiên, làm lễ hiến sinh lần đầu tiên,...) [3]
Cuối cùng là một loại cấm kỵ mà vi phạm thì sẽ bị sét đánh. Nguyên lý như sau: ghép đôi những cái không thích hợp: chong, "tội bị sét đánh". Các đối tượng rất đa dạng: ăn chung xoài với cá trắng, thịt với cá (Srê), mật ong với măng tre, cá với chim (Xơđăng), để cho một con thằn lằn bò lên nóc nhà (Srê), giết chết một con thằn lằn với một cây củi cháy dở (Xơđăng), để cho một con cu gáy đậu lên lưng trâu (con trâu sẽ bị sét đánh), dùng một sợi dây bằng da nai để thắng trâu vào ách, thổi tù và trong nhà (Srê), buộc cái nhạc vào cổ con chuột, vừa bơi vừa cầm một quả cây trong tay (Xơđăng), cầm gươm leo lên lưng dê (Noup), v.v. Kết hợp nghiêm trọng nhất là tội loạn luân.
Những điều hạn chế tự do rất nhiều và kỳ lạ đó, ngoài đôi trường hợp đặc biệt, đều có lý do từ huyền thoại về Dong Rong. Trước khi có những nhân vật này, các Thần ác và điên dại, các Kondis, nắm giữ sấm sét, cứ tùy hứng phá hủy tất cả những gì họ thích (là dấu hiệu con người hoàn toàn phụ thuộc vào các lực lượng thần linh); như, chăn xanh và trắng đặt chung, lợn đen và trắng nuôi chung, v.v. Dong và em gái của anh ta là Rong phạm tội loạn luân, việc có thể khiến họ mất mạng, do cơn thịnh nộ của các Kondis; họ thắng được các thần này và chiếm lấy được sét; họ bèn xóa bỏ đi những điều cấm kỵ ngốc ngếch, nhưng vẫn giữ lại việc cấm kỵ các sự kết hợp trái với trật tự của các sự vật.
Dưới tất cả các hình thức abany, wer, chong, việc kiêng cử đều có nguồn gốc và cứu cánh là các Thần linh: được các Thần linh xác định từ buổi khởi nguyên của thế giới, chúng phải được tôn trọng để bảo toàn trật tự truyền thống của vũ trụ được các lực lượng thần linh làm cho hài hòa.
Hiện tượng ma thuật và bói toán.- Thực hiện ma thuật chính thức chủ yếu là công việc của các phù thủy, mà chúng ta sẽ nghiên cứu sau đây. Chúng ta còn biết rất ít về các hiện tượng ma thuật và có nguy cơ chẳng bao giờ biết rõ được chúng, ranh giới của chúng cứ liên tục lùi xa.
Phù chú là những nghi thức cận-tôn giáo, không giống nhau về tầm quan trọng trong tất cả các tộc người. Ở nơi này, đấy chỉ đơn giản là một cách nói nào đó; ở chỗ khác lại là một phương cách bí hiểm để gây ra một sự can thiệp của thế giới thần linh. Ở vùng Srê, nói với một người nào đó: "Ồ, lúa ở ruộng của anh mọc tốt quá!", sẽ khiến người ấy sợ mất mùa, nhưng người nói đó không nhất thiết bị coi là có ý định làm hại người ta; có thể đó là một lời nói đùa. Ðối với người Xơđăng thì ngược lại, đấy rõ ràng là ném ra một lời phù chú (hrian dang) do trả thù hay ganh ghét.
Ở các tộc người phía Bắc cũng vậy, có một kiểu lời nguyền (buan) có nghĩa là tự đưa ra một lời phù chú đối với chính mình; các giáo sĩ ở Kontum có cả một danh mục lạ lùng những lời nguyền thuộc loại này: "Thanh gươm này sẽ đâm tôi nếu tôi không giết con trâu đã hứa." - Lời nguyền đọc khi cắn vào một cái sừng nai: "Tay chân tôi sẽ trở thành cùi như cái sừng nai, nếu tôi không gĩư lời hứa." Trên một con cua: "Thần Nước sẽ bắt hồn tôi, nếu..." - Trên một thanh củi cháy: "Lửa sẽ thiêu chết tôi cùng tài sản của tôi, nếu..." - Trên một sợi dây: "Tôi sẽ bị treo cổ, nếu..." - Trên đất nghĩa trang: "Tôi sẽ bị chết, nếu..."
Ở vùng Srê, để khẳng định sự trung thực của mình, một người bị kết tội có thể dễ dàng nói: "Mặt trời sẽ thiêu chết tôi nếu tôi nói dối... bệnh phong sẽ ăn hết cả người tôi... lúa sẽ khiến tôi chết ngạt...". Những lời nguyền đó cũng có thể nhằm một người khác mình: "Bệnh phong sẽ ăn hết người mày...", nhưng khi đó chúng có vẻ mất đi tính chất tôn giáo.
Người Tây Nguyên thực hiện các phương cách bói toán để biết được tình cảm của các Thần, để biết được nguyên nhân của các biến cố. Khi người ta cúng một con gà, một cử chỉ nghi thức là lấy cái lưỡi con gà ra, cầm giữa ngón cái và ngón trỏ và ném vào thành một chiếc ché trong nhà; nếu chiếc lưỡi dính vào thành ché, là các Thần được cầu khấn đồng tình; đấy là một cách để nhận được điềm báo. Không hiếm khi người ta làm đi làm lại thao tác ấy cho đến khi nhận được thành công mong muốn.
Trong một lễ tang, khi không biết được điều gì đã gây ra cái chết, người chủ gia đình dùng đến cách bói như sau: dưới chân quan tài, người ta đặt một khúc tre rỗng. Người kuny pang (người bác-chủ-hội-đồng-gia- đình) cầm một chiếc dáo đứng cách đó một quảng và nhắm vào khúc tre; ông ta hỏi: "Bị đầu độc? - Bị ma bắt? -..." Sau mỗi câu hỏi, lại ném dáo, cho đến khi có câu trả lời khẳng định; nghĩa là mũi dáo đâm trúng khúc tre.
Tinh thần biểu tượng khiến người ta nhìn thấy trong mỗi vật hình ảnh của một vật khác; ham muốn thường trực được tham dự vào thế giới tâm linh bằng những tiếp xúc với thế giới đó khiến người ta nhận ra trong trường hợp này hay trường hợp khác, thường là được minh họa bằng một huyền thoại hay một truyền thuyết, một dấu hiệu, một thông báo nào đó của Thần linh cho con người. Thông thường hơn cả là một cuộc gặp gỡ nào đó báo cho ta những điềm triệu.
Trong trạng thái thức, việc gặp một số con vật nào đó được coi như là một điềm báo. Ðối với người Srê, con chó rừng sủa khi một người đi qua, là báo hiệu cái chết sắp tới của người đó; con rắn nhả bọt mép trên dấu chân người cũng vậy. Gặp một con rắn trên đường khi đi buôn bán là dấu hiệu thành công. Ðối người Xơđăng gặp rắn trên đường trở về nhà là dấu hiệu sắp có tai họa; nhưng gặp khi ra đi thì chẳng sao cả. Con hoẵng chạy ngang đường là điềm rủi; con chim bölang kêu bên trái hay bên phải cũng vậy (đằng trước hay sau lưng thì lại tốt); con ve kêu phía sau lưng là điềm báo sẽ chết trong năm; khi đi đâu đó, gặp một con chim tucăng là điềm báo có người chết ở làng khi ta trở về, v.v. Người ta chú ý đến điều đó trước khi đi du lịch hay đi đánh nhau, trước khi dựng nhà. Một người Bana sắp làm một công việc nào đó sẽ dừng hết mọi việc lại nếu anh ta hắt hơi vào lúc đó.
Trong trạng thái ngủ, linh hồn, thoát ra khỏi xác người, lang thang và có các cuộc gặp gỡ mà ta biết được qua các giấc mơ: đấy là những điềm triệu. Ðặc biệt đối với người Rơngao, gặp các Thần trong giấc mơ thì sẽ dẫn đến việc kết ước với các Thần. Thông thường một người từ bỏ một công việc nào đó mà anh ta phải hoàn thành, vì anh ta đã có một giấc mơ xấu. Ðiều đó có thể giải thích là một phản ứng siêu thức của cá nhân ngại thất bại trong công việc ấy: "Nếu một cá nhân bị chế ngự bởi một tâm trạng khiến anh ta không thích hợp với một nhiệm vụ anh ta đang phải làm, thì điều đó sẽ biểu hiện trong giấc mơ bằng những hình ảnh nặng nề và đáng sợ". Vả chăng, mọi việc bói toán đều có hai phương diện: mong muốn theo đúng được ý thích của Thần linh, đồng thời cũng mong muốn rằng những ý thích đó tương ứng với các tình cảm của mình. Như cử chỉ của người cầu xin các điềm báo cho đến khi đạt được câu trả lời anh ta mong đợi mới thôi... "Xin cầu cho ý chí của Thần được thực hiện, nhưng xin cho ý chí đó hợp với ý chí của tôi!" Ðấy là một tình cảm thật chung cho toàn nhân loại.
Sự tượng hình.-
Hiện tượng thường gặp hơn cả là biểu tượng được tượng hình; theo chỗ chúng tôi biết, không tộc người nào không biết đến việc này. Thần được tượng hình một cách gián tiếp bằng một hình tượng trưng, qua đó Thần thường đó nhận dạng. Như ta thường có hình mặt trăng, mặt trời để thể hiện Töngai, Könhai; chúng ta đã gặp hình tượng này khi phân tích nghệ thuật trang trí. Cũng như bông lúa được buộc thành hình búp-bê, để tượng hình Yang lúa.
Người Tây Nguyên ở phía Nam không có tượng hình trực tiếp nào thể hiện Ndu, cũng như các Yang, các Caa; trong các trang trí rất ít gặp hình người. Thần được nhận ra và thờ phụng thông qua các thuộc tính và các sản phẩm của Người. Ngược lại người Êđê chạm những tượng nhỏ bằng gỗ tượng hình Aê Diê (người đàn ông trần truồng), cũng như các con quỷ (có gông trên cổ). Người Bana cũng làm những tượng tôn giáo nhỏ.
Lại còn có những vật thờ, không phải là những vật do con người làm tượng hình các lực lượng thần linh, mà là những vật thiêng, ít nhiều thần bí, qua đó các Thần hiện lên đối với con người, để tỏ tình thân thiện. Trong số những vật đó có một vật hiếm, như một cái sừng tê giác, và điều đó có trong tất cả các tộc người. Các tộc người phía Bắc thiên về các vật thờ hơn: đấy là những cái jöuantömong của người Rơngao, những cái dömong của người Bana. Một vị giáo sĩ ở vùng Xơđăng viết về những vật đó như sau: "Nếu một người Xơdăng tìm thấy ở đâu đó một vật lạ: một mẩu tinh thể đá, một mẩu ngà đeo tai do một người lạ đánh rơi, một mẩu khoáng an-ti-moang, một mẩu đá mài nhẵn hay có hình đều đặn, một lưỡi cuốc bằng đá lửa, sừng hoẵng uốn cong một cách kỳ dị, một vật công nghệ do con người làm ra không rõ nguồn gốc (lưỡi cuốc nhỏ bằng đồng trong cát ven sông, một hạt ngọc bằng sứ hay thủy tinh), anh ta tin rằng cái đó là do một vị Thần linh yêu quí anh ta gửi cho anh, như là bằng chứng của sự may mắn. Anh ta mang vật ấy về nhà và giữ đấy để thử. Thường khi lại có thêm một giấc mơ khẳng định niềm tin của anh. Nếu sau đó, anh ta đi đánh cá, đi săn hay thu hoạch được vụ mùa tốt, thì vật thờ ấy phải giữ trong nhà, treo trên cây cột chính; mỗi khi có hiến sinh, người ta bôi máu lên vật ấy. Không có hiến sinh, thì không được chạm vào đó."
Ðứng trước các hiện tượng đó, không thể nói đến bái vật giáo: vì đối tượng được thờ không phải là vật được coi là thiêng đó - là thần linh hay là nơi trú ngụ của thần linh - mà chính là vị Thần linh đã tạo nên hay đã gửi nó đến, ở cõi bên kia, được thờ phụng thông qua hình ảnh hay tặng phẩm của Thần.
Lễ mừng Năm mới.-
Ðối với người Tây Nguyên, năm là một đơn vị, không phải là tính theo số ngày cố định, mà là chu trình nông nghiệp trở lại theo định kỳ của tuần trăng. Do không biết đích xác ngày kết thúc một năm và bắt đầu một năm mới, nên mỗi làng có ngày Tết khác nhau vào khoảng giữa hai tuần trăng; điều đó cho phép tụ hội gia đình và bạn bè lúc ở làng này, lúc ở làng khác. Trong một làng, nhất là khi làng nhỏ, người ta nhất trí với nhau lấy một ngày duy nhất; người thì sẽ ăn Tết vào ngày đó, hoặc cách một ngày. Vào khoảng giữa tháng ba (theo lịch của người Việt) và đầu tháng năm, mọi người đều ăn Tết.
Lễ hội này trước hết là một lễ thức nông nghiệp; lúa là "đứa con của lễ hội" và bao giờ người ta cũng cúng Thần lúa. Lir bong [4] là tên gọi truyền thống của lễ mừng Năm mới này. Nghi thức chính trong hai ngày lễ này là việc bôi các thúng chứa lúa lớn bằng một thứ hỗn dịch của các loại cây thiêng liên quan đến nguồn gốc cơ thể con người: u börtul, đất gò mối, jiri, cây đa, kong rang, một loại dây leo đàn hồi, tất cả giã nhỏ trộn trong rượu cần. Chúng ta đã nói về việc Truyền thống coi các chất thảo mộc đó là nguồn gốc, là "nguyên liệu" làm nên cơ thể con người như thế nào. Những người tham gia lễ hội tự bôi vào thân mình những thứ thảo mộc đó, nhớ lại họ nguyên từ đâu sinh ra, và rồi họ sẽ trở về trong đất đã từng cấu tạo nên họ, sau này linh hồn họ, thoát ra khỏi thể xác này, sẽ từ Ðịa ngục trồi lên để cư trú trong một cây đa. Nghi thức đất này giống một cách kỳ lạ với Lễ Tro của Cơ-đốc giáo: "Memento homo quia pulvis es et in pulverem reverteris."
Các kho lúa cũng được bôi như vậy, đồng hóa loài cốc cốt tử này với chính con người. Vào dịp Năm mới bắt đầu một chu trình nông nghiệp mới, một cuộc sống mới của cây lúa; đến tháng thứ mười, vụ thu hoạch đã xong, lúa được cất vào kho; tháng thứ năm (đôi khi là tháng thứ tư) người ta bắt đầu cày; rồi cùng với việc gieo hạt, bắt đầu một cuộc sống mới của cây lúa đang sắp lớn lên. Giữa hai kỳ ấy diễn ra lễ Lir bong trong đó các lễ thức trộn lẫn sự tái sinh của thời gian (lễ bắt đầu lúc trời bắt đầu tối và kết thúc vào hôm sau vào lúc ban ngày), sự tái sinh của lúa và của con người cũng trải qua một vòng tuần hoàn sinh tồn nay đang tái sinh. Con người nhớ lại những gì mình đã trải qua và dự tính những gì sẽ đến với mình; họ cũng có một cái nhìn tổng quát như vậy đối với cây lúa: vụ mùa hôm qua, những hạt lúa họ xức nước cúng hôm nay, hạt giống họ gieo xuống ngày mai, sự tái sinh. Các vị Thần sáng thế đã lấy đất để làm nên xương thịt của họ: bây giờ họ lấy đất bôi lên người mình, tương lai họ sẽ trở về với đất. Những hạt lúa họ cất giữ trong kho kia ngày trước từ đất mà ra, họ tạo nên một sự tiếp xúc tượng trưng giữa chúng với đất; rồi họ sẽ gieo chúng. Ðấy là một biểu hiện của huyền thoại về Mẹ-Ðất, Me U, từ đó mọi thứ đã sinh ra và rồi sẽ trở về đó.
Lễ Năm mới chủ yếu mang tính chất gia đình; mọi việc diễn ra giữa kho lúa và nhà ở; người cha trong gia đình chủ trì; mọi người trong họ hàng và người thân tụ hội; người mẹ lo việc ăn uống cho mọi người mà người cha đã mời từ lâu, ông đã đến tìm tận làng họ từ mấy ngày trước. Các nghi thức trong lễ này - cũng như trong mọi lễ hội ở Tây Nguyên - chủ yếu mang tính chất tôn giáo: các Thần được cầu khấn trước hết là các Thần trong nhà. Chiều ngày thứ nhất, được ấn định trong giới hạn do Tục lệ xưa để lại, gia đình tụ hội dưới kho lúa. Các bà đã dọn dẹp mọi thứ, cất các dụng cụ vẫn vất ở đấy, trải chiếu ra nền đất. Một ché rượu nhỏ được mang đến; ông bố trong gia đình mở ché và chuẩn bị mọi thứ để uống. Trong lúc đó, chàng rể giết con lợn hiến sinh, chọc con dao dưới xương bả vai; con vật lập tức được quay, lòng để riêng ra trong một cái bát để dâng lên các Thần. Ðêm xuống, chỉ còn phân biệt được các đồ vật trong ánh lửa quay con lợn bốc mùi khét lẹt.
Ông bố mở đầu buổi lễ; cầm chiếc cần rượu trên tay, sau khi đã đưa mời từng người để bảo đảm cùng thống nhất trong lời cầu khấn, ông cầu các Thần bằng một bài hát dài, có nhịp và đều đều:
O Yang  Hỡi Thần
Hê nyu lir bong Chúng tôi uống mừng Năm Mới.
Lot nyu mö hê Hãy đến uống cùng chúng tôi.
Chut köbo Gạo lên men xin dâng đây
Bo kölon Gỗ cây đa đã được giã
Con của Mẹ (lúa con của Ðất)
Ruộng ngập nước
Thóc hạt to
Và thóc nhỏ hơn
Dil mö khai ri tai mö hê  Ngài cho người giàu nhiều, nay hãy cho tôi 
Tôi vay lúa của Böti, nó cho tôi lúa cằn
Pöl Kröla aê piang ngit  Tôi vay lúa của Körla, nó cho tôi lúa ướt
Tôi vay người bà con Kon-pang, họ 
không thèm mở cửa
Họ còn coi tôi như con sóc ăn trộm
Họ vứt của thừa cho tôi như cho chó
Con dao của tôi, tôi đã đem đổi lúa
Cây dáo của tôi cũng đã về tay họ
Söna hê at jöh mö cau Cây ná của tôi bây giờ cũng là của họ
Kömboat hê uh jöh mö cau Kèn mboat tôi chơi cũng đã về tay họ rồi
 
(Ngay cả khi kho đầy ứ thóc, người ta vẫn quen than nghèo như thế; các Yang, nghe vậy, sẽ thương hại và mùa sau sẽ càng cho nhiều thóc hơn).
Lúa của người ven biển
Lúa ở xứ có hoa đỏ bầm
Lúa vùng cao, xứ người Phup
Lúa hạt bay, lúa của Mặt trời
Lúa của Jul nhiều như cát
Lúa biết bao nhiêu ở ven biển
Thần ở đấy làm chi, hãy về chỗ tôi
Xin cho mưa trời đừng làm tôi ngập
Mưa nhỏ đừng làm tôi ướt 
Tôi như rơm rác, xin đừng bỏ tôi 
Nếu tôi ăn rau, xin hãy làm cho rau đừng nhạt
Khi tôi ăn cơm, xin cho cơm được no
Khi tôi uống, xin cho đủ rượu cần
Nếu người khác được ăn rau ngon, xin đừng quá vui
Bökah piang cau banyrang Xin đừng ở mãi với những người ăn gạo ngon Dan jöka bany saa  Xin đừng ăn cơm lên men họ cúng
Cau töma bany lot Xin đừng đi với bất cứ ai mời
Röket lot sour mi gön Thần sắp đi đến đó, xin chờ tôi
Rökon lot sour mi joe Thần đi và tôi tìm Thần
Gön any dö chê riah Xin chờ tôi ở chỗ rừng mây 
Gön any dö cha röyu Xin chờ tôi ở chỗ cây to
Gön any dö dor bönöm  Xin chờ tôi trên đồi và núi
On any dö ka kron klong Xin "đặt tôi" vào trong thóc cũng nhiều như cá dưới sông.
(Dặn các Yang: xin hãy giúp tôi tìm được đủ cái ăn; đừng có chỉ chiều lòng những người giàu cúng Thần nhiều món ăn ngon). Và đến đây bắt đầu lời khấn dài lải nhải, khấn các Thần thổ địa:
Sšn hany any ö Yang bönöm Gungreh Xin phù hộ tôi, hỡi Thần núi Gungreh
Yang bnm Gungrang siin hany any Thần núi Gungrang, xin phù hộ tôi
Yang böönm Gungklo siin hany any Thần núi Gungklo, xin phù hộ tôi.
Cha srê Thiu Brah Yang Bang Tar Yang Böpup siin hany
Bo Bil Bou Mru Wal bong Dor Klongtrao any 
Wil Mbel Su Dan Klong Jo Tanao Wilwal "xin phù
Tu Körting Bönöm Körlut Klong Böya Tu Bring hộ tôi"
Bo K'Bri Bong bou Bo Jang Yang tu Klac
Körla Lusök Lu Pompil Klong-kap-Klong-kong
Pöl boh mö oung Doe Ði vay muối của Thần Lingdeh 
Pöl phe mö oung Doe Vay lúa của Doe
Pöl koe mö oung Ndu Vay thóc của Ndu
Pöl rpu mö oung Nhing Vay một con trâu của Nhing
Boh mö koe pöl mö Töngai Muối và thóc, thì hỏi Mặt Trời
O Yang lot nyu Mời Thần hãy đến uống...
 
Lời khấn dài này, chán ngắt đối với người ngoài cuộc, rất đáng chú ý về nhiều mặt. Từ hình thức chung của nó, ta có thể thấy thái độ của người Tây Nguyên trước các Yang của họ, tinh thần lời khấn của họ chủ yếu là xin các của cải vật chất và trước hết là thóc lúa. Nhu cầu thóc lúa ấy là một ám ảnh; ý tứ về thóc lúa đều ẩn ngầm dưới mỗi khổ của kinh cầu nguyện. Hình thức ở đây là hình thức thơ, bằng các lặp lại và các vần thông: chut köbo - bo kölon - Kon k'me... Cách thức ấy cũng là một phương tiện của thuật nhớ, mỗi câu thơ lại gọi một câu khác.
Việc kể tên các vị thần địa phương là rất lý thú: đấy là tên từng ngọn núi, quả đồi, đám ruộng, khu rừng thiêng, từng chiếc ao, tảng đá, khu rừng thưa ở vùng Nam Di Linh, mỗi vị trí địa lý đó đều mang tên vị thần trú ngụ ở đấy.
Lời cầu khấn được đọc xong, tức là các Thần đã được mời uống rượu cần và ăn các món lễ vật: cơm nếp, lòng lợn, người bố trong gia đình cắm cần vào ché rượu và bắt đầu uống. Sau đó đến lượt từng người có mặt, bắt đầu từ người đáng nể trọng nhất. Nghi thức "dưới nhà kho" đã xong; nghi thức "bên trên nhà kho" sắp bắt đầu. Người bố và các thành viên chính trong gia đình leo lên kho và ngồi trên nóc kho. Việc chuyển từ phía dưới kho lên trên nóc kho đó là một dấu hiệu của sự đổi mới được ăn mừng vào ngay đầu năm.
Ngồi trên thóc giống [5], như là đồng nhất với nó và cất lời nói, làm việc hiến tế nhân danh nó, người bố cắt tiết một con gà, để cho máu gà chảy xuống trên các hạt lúa và xin Thần Lúa cho các hạt này được phát triển tốt và nhanh để không có chuyện "giáp hạt". Vẫn trong tư tế đó, chân gập lại, ngồi trên thóc, đầu chạm đến mái chòi, người ta uống thêm mấy bát nữa. Rồi người ta bước xuống khỏi cái chỗ bất tiện đó; người bố trộn trong một cái bát vỏ đa đã giã nhỏ, dây leo, máu gà hiến sinh, đất gò mối, rượu cần để pha tất cả các thứ đó ra và bôi lên kho lúa, các cây cột, cửa kho và cửa nhà; đôi khi người ta bôi lên cả người mình. Ðấy là lễ lớn chúc mừng sự đổi mới. Lễ ở kho đã xong, bây giờ người ta quay về nhà.
Cả đại gia đình, đông đủ, ngồi trên các chiếc chiếu và bắt đầu thiu thiu ngủ trong khi chàng rể chuyển rượu từ trong một ghè rượu mới, ghè rượu to nhất nhà, ra các bát; khi đã xong, người ta uống rượu cần ban đêm. Bây giờ đã rất khuya. Ðến nửa đêm, người bố đánh thức những người khách đang ngái ngủ dậy: "Nào các anh em, chú bác, các cháu, hãy đến uống với chúng tôi mừng Năm Mới!" Còn lờ đờ vì ngái ngủ, đám đàn ông xích lại gần ché rượu, đàn bà, nhanh nhẹn hơn, bận rộn, đi đi lại lại giữa căn bếp nơi các bà nấu cơm và bếp lửa của khách mà các bà cho thêm củi thông vào. Những bó đuốc đầy nhựa ấy soi sáng căn nhà, tạo không khí. Mặc những chiếc áo cánh thêu, không có tay, các bà đi đi lại lại; cạnh bếp lửa những cánh tay cần mẫn của các bà bóng lên, ẩm ướt, màu đồng thanh; những chiếc áo cánh bó lấy thân hình duyên dáng của các bà.
Sau khi đã hiến tế xong, là lễ hưởng lộc thịt đã hiến sinh; sau khi đã làm lễ mừng lúa, bây giờ là bữa ăn hội tụ mọi người. Thịt con gà được giã nhỏ ra để mọi người đều có phần; con lợn được xẻ ra; người ta để lại một phần đến ngày mai để cho những người khách khác cũng được thưởng thức. Người ta uống nhiều hơn là ăn; người ta đánh chiêng và trống; những người giỏi hơn cả hát các bài ca Truyền thống. Dần dần, mệt mỏi xâm chiếm; đến bình minh thì cả nhà đều đã ngủ; chỉ còn người bố thức, bởi ông không thể ngủ để còn được tận hưởng niềm vui gặp gỡ những người bà con từ xa đến, để sẵn sàng giúp bất cứ người nào đó trong số họ cần đến ông, để giữ cho ngọn lửa cháy mãi.
Buổi rạng đông đến, lễ hội lại tiếp diễn; người ta mở những ché rượu mới. Sự kết thúc của một ngày và bình minh của ngày hôm sau, sự kết thúc và sự bắt đầu, đấy cũng là dấu hiệu cửa sự tái sinh của Ngày Tết, đánh dấu sự khởi đầu của một chu trình mới.
Thịt còn lại được đem chia; không còn đếm được các ché rượu được hiến tặng. Bà con xa và bạn bè đến cộng thêm vào số khách mời. Ðây là lúc tặng quà Năm Mới: từ tối hôm trước, các bà đã chuẩn bị cơm nếp (piang mbar) và đã nắm chặt thành từng nắm nhỏ trong lá klong [6] . Một gùi lớn những nắm xôi đó được mang chia cho từng người, không quên bất cứ một ai, ngay cả đứa bé mới sinh. Sự công bằng trong chia chác ở Tây Nguyên là cơ sở trên sự bình đẳng tuyệt đối.
Ðến trưa ngày thứ hai, những người họ hàng đến từ xa, những người bạn đông đúc, mọi người tản về; mỗi người trở về làng mình, mang theo gói mbar nhỏ của họ; bọn trẻ con đã ăn phần của chúng, nhưng bố mẹ chúng thì giữ lại để cho các cháu của họ, ngày hôm sau. Quên phần mình vì con cái của mình như vậy là tục lệ của người Tây Nguyên. Gia đình đã làm lễ Lir bong bây giờ lăn ra ngủ, mệt nhoài vì phải đứng mà đón tiếp Năm Mới. Vài ngày sau, người ta sẽ làm lễ Lir bong ở làng bên cạnh và người ta sẽ đi đến đó làm khách. Có cả một tháng vui chơi như vậy, vào dịp bắt đầu một năm.
Lir bong, lễ hội của sự tái sinh, tái sinh của con người, của toàn bộ Tự nhiên, của Thời gian. Tất cả các nghi thức trong lễ ấy đều là dấu hiệu và biểu tượng của một vòng tuần hoàn theo chu kỳ của các hình thức và các điều kiện (lễ bắt đầu vào ban đêm và kết thúc vào ngày hôm sau; làm lễ dưới nhà kho rồi đến bên trên đống thóc, v.v.), dấu hiệu và biểu tượng của một sự đổi mới chung.
Lễ tang.- Trong tất cả các nghi lễ, người Tây Nguyên đặc biệt coi trọng lễ tang. Quả thật đây là cả một hệ thống tôn giáo trong đó ta thấy có tất cả các yếu tố chúng ta đã phân tích trên kia. Có những nghi thức tích cực, bằng lời (các bài ca về cội nguồn, các lời khấn) và bằng hành động (hiến sinh, vái lạy) và những nghi thức tiêu cực (cấm và kiêng).
Ở đây chúng tôi sẽ không nghiên cứu chi tiết các nghi thức tang lễ trong diễn tiến của chúng. Ðề tài sẽ quá rộng. Dựa trên các bản văn chính, từ nguồn gốc của các nghi thức này, chúng tôi cố làm rõ ra cái tinh thần đã chi phối chúng, dưới các mặt khác nhau của chúng.
Nguồn gốc của nghi thức.- "Lúc đầu, vào thời khởi nguyên, người ta không biết làm quan tài. Chính Bung đã dạy cho con người biết việc này. Bung là chủ của thế giới được tạo nên; ông ở giữa trời và đất. Köm, vị quan tòa xử các linh hồn, ngự ở dưới Ðịa ngục. Ngày xưa, những người chết, sau ba ngày tất cả đều sống lại; và rồi họ lại chết và lại phải chôn họ. Cứ như thế không ngừng... và lúc nào cũng có người chết. Bung bèn bảo Köm làm những ngôi nhà dưới Ðịa ngục, những ngôi nhà thật, những nhà kho thật, như vậy người ta có thể chôn những người chết. Họ sẽ ở yên dưới ấy, ở đấy họ có mọi thứ cần thiết.
"Köm bắt đầu mang xuống Ðịa ngục chén bát, chiêng, ché, trâu, để cho người chết dùng và họ chịu làm người chết đối với đất bên trên. Những người trên mặt đất trả đủ phần của mình (boh chöt) để cho người chết có đủ các thứ cần dùng và không trở lên nữa.
"Người ta làm nhà dưới Ðịa ngục; người ta cùng làm với Köm để cho người chết vui lòng. Người ta đặt móc để treo nồi, giống như trên mặt đất. Người ta dùng dao phạt để phát rẫy; người ta đếm các đêm cho đến ngày lễ ăn trâu. Köm dạy người ta làm mọi thứ ở dưới ấy.
"Nhưng có một con cá làm một người bên dưới ấy bị thương khiến anh ta chết. Thế là Bung đã thắng lợi: ở dưới Ðịa ngục người ta cũng chết! Những người nào chết trong thế giới thứ nhất là Brah Ting này thì được chôn ở Gling Gong ở đó họ sống lại. Người chết ở Ðịa ngục được chôn; vào dịp đó người ta hiến sinh một con trâu. Ở dưới đó người ta cũng ăn trâu trong dịp năm mới, ngay trước khi ăn Tết trên mặt đất." (Truyện kể Srê).
Từ bản văn chính xác này, rõ ràng là có niềm tin về một cuộc sống ở thế giới bên kia, ở những thế giới khác nhau, ở đấy linh hồn sống một cuộc sống giống như cuộc sống trên mặt đất. Linh hồn, dưới những hình thức mới, tiếp tục sống dưới Ðịa ngục. Tất cả những của cải cúng cho người chết, nhằm cung cấp cho các nhu cầu của họ, là những bằng chứng.
Trong đó có ám chỉ đến chỗ ở của những người chết; lối biểu hiện đó nhằm chỉ trực tiếp đến ngôi nhà của người chết trong lòng đất sâu và nhà kho của họ; cả gián tiếp nữa, thông qua con đường biểu tượng, là ngôi nhà mồ được dựng ở nghĩa trang, ở đấy người ta đặt quan tài và chiếc kho nhỏ đựng các lễ vật được mang đến. Một cách hình ảnh hơn nữa, căn nhà mồ đó là chiếc quan tài, được coi như sẽ đi xuống Ðịa ngục và trở thành nơi ở chính thức của người chết.
Thuở ban đầu hình như người ta chưa biết đến quan tài; xác chết được gói trong một chiếc chiếu đơn sơ, như ngày nay đối với những người quá nghèo hay trẻ con, hoặc khi người ta muốn nhanh chóng tống khứ xác chết đi. Truyền thuyết về chiếc quan tài đầu tiên có nhiều dị bản: theo một số người, Bung là người đầu tiên dạy con người kỹ thuật đó; theo một số người khác thì "một nhân vật ngày xưa xuống thăm bố mẹ ở Ðịa ngục, đã thấy cần làm một cái quan tài để những cư dân dưới ấy có cái mà ở. Trở lên trên mặt đất, trong một thời gian ngắn, anh ta đã làm chiếc quan tài cho mình rồi chết; người ta chôn anh trong chiếc quan tài ấy, nhưng anh ta đã dạy cho mọi người biết cách làm." Trong truyền thuyết Srê về Sörik Sörac, ta tìm thấy tình tiết đáng chú ý này: "Các Cau Sömri (người hổ) làm quan tài của họ bằng gỗ đen; các Cau Yang (các nhân vật được thần thánh hóa) bằng gỗ cây gạo; và chúng ta, người Kon Cau, thì bằng gỗ có nhựa." Nói chung, chiếc quan tài được đẻo bằng rìu trong một thân cây, xẻ ra và đục sâu vào, làm cả hòm lẫn nắp đậy. Trang trí thì tùy theo tộc người; thông thường chúng có một chiếc sừng ở mỗi đầu, nhằm mục đích thực dụng dễ khiêng. Người Êđê thì sơn; người Mnông tạc thành hình người nằm.
Làm một chiếc quan tài là một công việc lớn và nhiều người cùng làm, giống như khi dựng nhà. Người chết "vào nhà của mình" (quan tài) thông thường là vào buổi chiều ngày thứ hai; anh ta sẽ đợi một, ba hay bảy ngày trước khi được đem đi chôn.
Lễ boh chöt, tức sự tham gia của những người sống vào việc chăm sóc những người chết, xác định cả một tổ chức nghi thức mà người Tây Nguyên rất coi trọng. Như đã thấy trong truyền thuyết về buổi khởi nguyên, mục đích là giữ gìn cho người chết để họ sẽ sống lại ở thế giới bên kia. Hầu như ở khắp nơi, ở nghĩa trang đều có một ngôi nhà nhỏ, kiểu một cái kho thóc thu nhỏ, dùng làm nơi để các lễ vật: đấy là cái dörnan của người Srê, cái sang êsei của người Êđê, hoặc ở cổng hoặc ở trên ngôi mộ. Giá trị của cái dörnan ấy là ở chỗ nó biểu hiện một điểm giao tiếp, một nơi trao đổi giữa thế giới của những người sống trên mặt đất và thế giới của những người sống bên dưới; một mối dây liên lạc nữa giữa các yếu tố của vũ trụ có tổ chức.
Truyền thuyết về cội nguồn còn chỉ rõ tính chất của các lễ vật. Trước hết đó là những của cải đã từng là của người chết: quần áo, chăn, đồ trang sức, ché, chiếc trống của anh đã "khóc" anh trước đám tang. Ngoài ra là các thức ăn: cơm nấu để ăn ngay, thóc để mang theo và giã ở "bên kia". Người Rơngao có tục đưa cơm và rượu vào miệng người chết. "Họ sống ở bên kia như chúng ta, họ cũng biết thiếu đói và cần thức ăn".
Cuối cùng, noi gương Köm, và bắt đầu từ ông, người ta chỉ coi như nghi lễ đã được xong, hoàn tất, khi đã làm lễ hiến sinh, ở vùng Srê ít ra là một con trâu; ở các tộc người khác là gà và lợn. Ở vùng Srê, những người giàu giữ những thi hài người thân của mình đến bảy ngày; và họ phải hiến sinh bảy con trâu. Việc hiến sinh trâu này không phải là lễ hiến sinh thông thường; nó biểu hiện sự nối tiếp, cả ở trong thế giới loài vật, giữa cuộc sống này và cuộc sống "sau khi chết": con trâu được giết nhằm, khi đã chết, nó sẽ đi theo người quá cố. Những người sống ăn thịt con trâu, cùng với các Thần, và cùng với người quá cố sẽ nhận được con vật ấy mà linh hồn được hóa kiếp ở Ðịa ngục, để phục vụ họ.
Nghi thức bằng lời.- Người ta thường có xu hướng ít chú ý đến phần nói bằng lời trong nghi thức. Ðúng là các hành vi và các đồ vật, hành động và bối cảnh, hấp dẫn các giác quan hơn và ít đòi hỏi phải suy nghĩ. Lời nói, mà tai ta nghe, khó hiểu đối với người ngoại quốc, và cả đối với người bản địa không thông thạo. Tuy nhiên, yếu tố này, mang tính tâm linh hơn, mới là cơ bản; nó đem lại một ý nghĩa cho tất cả những cái khác; đấy là chìa khóa của vô số cử chỉ có vẻ như không liên quan gì đến nhau. Làm sao có thể xét đoán tư tưởng của một tác giả kịch mà chỉ nghiên cứu các thái độ và trang phục của các diễn viên? Cho nên hết sức cần biết các bản văn thiêng để thấy được cái tinh thần đã chi phối các nghi thức tang lễ này, cái sẽ đưa chúng ta đi sâu đến tận cùng tư tưởng tôn giáo của người Tây Nguyên.
Trong các nghi thức bằng lời đó, trước hết hãy nhắc đến tục những lời than khóc phương đông, mà Kinh Thánh cho ta nhiều ví dụ. Ở Tây Nguyên, trong các đêm thức bên người chết, những người đàn bà khóc người quá cố bằng cách hát lời ngợi ca họ. Khúc ca đơn điệu, rất ít thay đổi, cứ lặp lại mãi cho đến khi đưa quan tài ra mộ. Người đàn bà khóc, chẳng còn biết đến ngày đêm, cứ đọc mãi những lời lải nhải bằng một giọng khản đặc. Chẳng có chỗ giành cho sự ứng khẩu: kẻ để lại một người vợ góa bao giờ cũng là người chồng tốt nhất trong các ông chồng, và bọn trẻ mồ côi hoàn toàn chẳng còn biết nương tựa vào đâu.
Lời khấn người chết.- Ðáng chú ý nhất là lời khấn do người chủ lễ đọc trong dịp này (người già nhất trong nhà, người thông thạo các nghi lễ nhất). Chúng tôi dẫn ra sau đây vài bản văn được dùng ở nhóm người Êđê.

[1]Thói quen tính theo trăng đó đã ảnh hưởng vào ngôn ngữ, chính trong ý nghĩa đó người Tây Nguyên, thay vì nói ngày như chúng ta, lại nói đêm; họ nói: "Ðêm thứ ba...", "Hai đêm nữa...", "Hai đêm đi đường...".
[2]Tên đứa bé cũng wer để Caa không nghe thấy.
[3]Nhắc nhớ đến việc nghỉ ngơi trong Ngày Thứ Bảy, sau cuộc Sáng tao Thế giới.
[4]Xức thúng.
[5]Ðấy là một dấu hiệu của sự đổi mới.
[6]Lá dâu trong tiếng Việt.