Chương II (tt)

     ặc xong cái áo dài kim tuyến óng ánh, Quỳnh Bích lại cởi ra ném xuống ghế, dáng điệu hằn học. Nàng đã dặn thợ may làm cổ cao để thích hợp với cái cổ trắng toát của nàng, hắn lại quên làm cổ thấp cho đúng thời trang.
Nhìn trong gương - cái gương cao bằng đầu người, mua từ bên Pháp gởi sang - nàng bỗng ghét cái áo kim tuyến thậm tệ. Đành rằng áo may rất khít, nâng cao bộ ngực vĩ đại của nàng trên cái eo mỏng dính, nàng không thích những sợi kim tuyến óng ánh, tạo cho nàng một vẻ đẹp diêm dúa, giả dối, giống như nữ diễn viên trên sân khấu cải lương.
Đi với Văn Bình, nàng muốn phô bày một vẻ đẹp giản dị và thành thật. Nghĩ vậy, nàng bèn lục tủ lấy ra bộ áo đầm màu xanh nhạt. Có lần nàng mặt áo trắng đi làm, chàng đã nhăn mặt, trách nàng sao không mặt màu xanh.
Bộ xiêm y này, nàng may theo một trong những kiểu mới nhất ở Ba lê. Bề ngoài trông tầm thường, song hàng may rất đắt tiền. Riêng công may, nàng phải trả tới ba ngàn.
Trù trừ một lát, nàng dốc lên tóc nửa lọ nước hoa Vent-Vert. Mùi thơm của Vent-Vert không làm ngạt mũi đàn ông, trái lại hòa với da thịt biến thành một mùi lạ lùng.
Tô lại môi son, Quỳnh Bích ẻo lả ra cửa, xuống thang máy. Nàng thuê một căn phòng sang trọng trong bin-đinh Mạc đỉnh Chi, phía sau bệnh viện Đồn Đất.
Ra đến thang máy, nàng gặp một người ngoại kiều cao lớn, mặc vét-tông trịnh trọng, đứng đợi. Thang máy lên, người ấy nghiêng mình, mời nàng vào. Nhận ra người ấy cũng ở trong bin-đinh, Quỳnh Bích mĩm cười cảm ơn. Người ấy khen ngợi:
- Cô đẹp quá.
Nàng đứng vào góc, trống ngực đập thình thịch. Không phải lần đầu trong đời, nàng được đàn ông tán tụng, song lần này nàng có cảm tưởng như có sự đổi mới khác thường. Phục sức giản dị, nàng đẹp hơn là ăn mặc sang trọng. Chắc hẳn Văn Bình sẽ hài lòng.
Gã đàn ông hỏi nàng:
- Xin lỗi, cô đi đâu?
Nàng đáp:
- Tôi có việc trong Chợ lớn.
- Mời cô đi cùng xe với tôi, tôi cũng vào trong đó.
- Cảm ơn ông. Bạn tôi đang chờ ở dưới.
Gã ngoại kiều mở cửa, nhường nàng ra trước. Văn Bình đúng hẹn thật. Chàng đến vừa vặn, không nhanh cũng không chậm một phút. Gã ngoại kiều đã cao, đã đẹp, chàng còn cao, còn đẹp hơn. Nhìn cách ăn mặc của chàng, ai cũng lầm là tài tử màn bạc. Bộ âu phục bằng lục Ý đại lợi may chật, làm nổi đôi vai tròn và thân hình lực lưỡng. Sơ mi của chàng bằng lục Ý. Đôi giày mũi nhọn cũng bằng da Ý. Màu xanh của cà vạt hòa hợp với màu trắng của sơ mi, và màu xám của vét-tông.
Gặp chàng, gã ngoại kiều đon đả:
- Chào ông. Ông tốt số quá.
Quỳnh Bích vội giới thiệu:
- Giới thiệu anh, đây là ông bạn cùng tầng với em ở bin-đinh. Ông này làm việc trong tòa Tổng Lãnh sự Pháp. Và thưa ông, đây là...
Văn Bình đỡ lời:
- Tôi là Văn Bình. Nhân viên Sở Mật vụ.
Gã ngoại kiều giật mình:
- À, ra ông là Văn Bình. Đứng trước núi Thái sơn mà tôi không biết. Xin ông tha lỗi.
Văn Bình cười:
- Ông cứ dậy.
Quỳnh Bích khoát tay chàng, và hai người ra xe hơi. Nhìn chiếc Corvette dài ngoằn, sơn trắng, bóng không chút gợn. Quỳnh Bích ngây người ra ngắm:
- Trời, anh có cái xe đẹp quá. Anh sắm bao giờ thế?
Chàng nhún vai:
- Ông Hoàng vừa biếu anh sau chuyến công tác Hà nội về. Này em, thằng cha nào theo em xuống thang máy thế?
- Em không biết tên. Hắn ở cách em ba phòng. Em ở Sở về, hắn cũng ra nhìn, em đi hắn cũng nhìn theo. Thậm chí em ra thang máy, hắn cũng đưa em xuống một cách chu đáo, và trung thành như sợ cọp ăn thịt mất em.
- Anh là cọp dữ, em không biết sao?
- Em hy vọng sẽ được anh ăn thịt. Chỉ sợ anh vờn chơi rồi vứt em một xó thôi.
Chiếc Corvette rú lên nhè nhẹ, rồi loáng một cái biến vào bóng tối sau tòa đại sứ Anh. Ngồi sát chàng, Quỳnh Bích liên miên nghĩ tới những người đàn ông háo sắc chạy theo nàng như bóng với hình mà nàng đều cự tuyệt. Gã ngoại kiều kia cũng là một trong hàng chục người đàn ông dại gái bị nàng bỏ rơi một cách tàn nhẫn.
Thật ra, Quỳnh Bích đã lầm.
Gã ngoại kiều mặc áo quần trịnh trọng đợi nàng ngoài thang máy không phải là kẻ dại gái ngu xuẩn.
Hắn theo nàng, chờ nàng vì được lệnh làm như vậy. Sở dĩ hắn xuống nhà dưới, bắt tay Văn Bình vì muốn biết rõ người bạn đi với nàng đêm nay là ai. Và chiếc máy ảnh nhỏ xíu, mà ống kính là cây kim cà-vạt tí hon, chụp không cần đèn, đã thu được hình Văn Bình.
Chờ hai người đi khuất, hắn mĩm cười bí mật, trèo cầu thang đáng ganitô vàng lên phòng.
Hắn khóa cửa, cài then lại cẩn thận, rồi vào buồng tắm. Cửa buồng tắm cũng được hắn khóa chặt. Hắn mở một cái hộp đựng dụng cụ rửa phim và in hình, đoạn tắt đèn nê-ông, mở ngọn đèn đỏ, lúi húi tháo cuộn phim tí hon ra khỏi máy.
10 phút sau, miếng phim có hình Văn Bình được rửa xong. Hắn sấy khô, đoạn gói phim vào tờ giấy bạc, cuộn tròn, bỏ vào cái hộp thiếc nhỏ.
Xong xuôi, hắn huýt sáo miệng, nhảy ba bực một xuống gác. Xe của hắn là một chiếc Cortina sơn đen xinh xắn. Hắn phóng như bay vào Chợ lớn.
Dọc đường Hồng thập tự, hắn luôn luôn nhìn vào kính chiếu hậu.
Không thấy ai hắn quẹo vào đại lộ Trần hưng đạo, rồi dừng xe trước một quán giải khát. Vào quán, hắn uống một chai la ve 33 pha với đường.
5 phút sau, hắn lại ra xe, chậm rãi lái về Sài gòn. Đến trước rạp chiếu bóng Vĩnh Lợi, hắn đậu xe, ngồi trước vô-lăng một lát. Nhìn đồng hồ đúng 8g35', hắn xuống xe, mua vé vào rạp chiếu bóng.
Hắn chọn hàng ghế cuối cùng không có khán giả, ngồi xuống. Liền khi đó một người đàn ông mặc sơ mi ngắn tay, bỏ ngoài quần, để râu mép, đạo mạo vén màn cửa vào rạp.
Người này ngồi xuống bên cạnh gả ngoại kiều. Giả vờ hút thuốc, gả ngoại kiều quay sang bên, mượn bao diêm. Dưới ánh lửa, hắn nhận ra nét mặt của người lạ.
Lúc trả bao diêm, hắn kèm luôn cái hộp dèn dẹt đựng miếng phim tí hon.
Người lạ ngồi thêm 5 phút rồi lẳng lặng ra ngoài. Gả ngoại kiều nhìn đồng hồ. 15 phút sau, đến lượt hắn đứng dậy. Ra tới ngoài cửa, hắn nán lại mua gói thuốc Camel. Tuy bao thuốc trong túi hắn còn đầy, hắn vẫn mua thêm, để lợi dụng cơ hội quan sát chung quanh.
Đến khi biết chắc không bị theo, gã ngoại kiều mới rảo lại nhà hàng Quốc tế, trèo lên lầu.
Thần khẩu đang thúc giục. Hắn cần gọi một bữa ăn thịnh soạn kèm thêm chai sâm banh để tạm quên những giây phút căng thẳng đã qua. Máy lạnh trong tiệm ăn sang trọng làm hắn dễ chịu. Ngồi cắn hạt dưa, nghe cô ca sĩ có mái tóc dài đen nhánh, lòa xòa trên bộ ngực khêu gợi - hắn chỉ nghe âm thanh khích động của bộ ngực nhảy múa mà không nghe giọng hát trầm trầm - hắn lẩm bẩm một mình:
- Hừ, lão Hoàng! Lão Hoàng ngu thật. Lão Hoàng có mắt cũng như mù. Mình hoạt động công khai trên đại lộ Lê lợi mà lão chẳng biết gì hết.
Chai rum dầm đá vụn được mang đến trên cái khay bạc. Trên môi gã ngoại kiều nở một nụ cười kiêu hãnh.

*

Thật ra, ông Hoàng không ngu, không mù như gã ngoại kiều kiêu hãnh tưởng lầm.
Trước khi gã ngoại kiều vào rạp xi-nê Vĩnh Lợi trên đường Lê Lợi, ông Hoàng đã ngồi bên đống hồ sơ dày cộm và cái máy liên lạc siêu tần số tối tân trong văn phòng. Từ trưa đến giờ, ông chưa ăn cơm. Ông thường quên ăn mỗi khi có công việc quan trọng.
Tiếng báo cáo trong máy vẳng ra:
- A lô, Thanh long xin báo cáo với Bạch xà... Hắn đã trao tài liệu cho nhân viên của địch. Hắn vẫn đinh ninh ta không biết gì hết. Nhân viên liên lạc vừa rời rạp chiếu bóng. Xin Bạch xà cho biết chỉ thị. Có cần cho người theo dõi hắn nữa không?
Ông Hoàng đáp:
- Không cần. Nhiệm vụ của hắn tạm hết rồi, theo hắn vô ích. Yêu cầu anh đích thân theo sau én liên lạc.
Lê Diệp - phải, người báo cáo với ông Hoàng và tự xưng là Thanh long là Lê Diệp, nói tiếp:
- Thưa, tôi đã chụp hình tên liên lạc bằng máy ảnh hồng ngoại tuyến. Bây giờ, tôi đi đây. Hắn lái xe hơi Mỹ, kiểu Chevrolet đời 1954, sơn vàng nhạt, bảng số ngoại giao đoàn NT... có lẽ là số giả, cọc radio giữa thùng xe phía sau, bánh hông trắng, bánh trước bên trái không có mâm.
- Được, tôi đã ghi âm lời anh báo cáo. Lát nữa, anh về Sở gặp tôi. Văn Bình cần bàn chuyện với anh, trước khi tiến hành công tác.
Tắt máy, ông Hoàng đứng dậy. Nguyên Hương đã túc trực một bên với phích cà phê đặc sệt như hắc ín. Ông tổng giám đốc nhắp tách cà phê và cắt điếu xì-gà Havana.

*

Trong khi ấy, Văn Bình đã uống hết ly uýt-ky thứ 6 tại nhà hàng Mỹ Cảnh.
Càng uống rượu, chàng càng tỉnh ra, mặt hồng hào, nụ cười thêm duyên dáng, và cặp mắt thêm quyến rũ. Quỳnh Bích ngồi đối diện, mỗi khi thêm nàng cúi xuống, cái cổ áo chữ V là trễ ra, bắt mọi người phải nhìn vào.
Gió sông thổi mạnh vào nhà hàng nổi trên sông Sài gòn. Tuy vậy, Văn Bình vẫn ngửi thấy mùi nước hoa Vent-Vert từ ngực nàng tỏa ra, pha lẫn mùi da thịt thanh tân kỳ thú. Chàng ngồi yên ngắm nàng. Đã lâu, chàng chưa có dịp nghĩ ngơi, khoát tay một cô gái tuyệt đẹp, vào Mỹ Cảnh để hưởng gió mát và ngắm cảnh sông nước ban đêm dưới bầu trời láng mượt như nhung.
Nhất là đêm nay, một đêm đầy trăng.
Vừa ăn, Văn Bình vừa kể cho nàng nghe cuộc đời phiêu bạc của chàng, từ ngày gia nhập hàng ngũ quân báo O.S.S của Mỹ, tới những chuyến tung hoành sau bức màn sắt.
Quỳnh Bích ngắt lời:
- Em xấu số quá nên bây giờ mới gặp anh, và được anh để ý. Từ trước đến nay, anh có bao nhiêu người yêu rồi.
- Người yêu ấy à? Anh cũng không biết nữa. Vì thật ra, anh có một quan niệm hơi đặc biệt về tình yêu. Theo em, tình yêu là thế nào?
- Em không hiểu. Em quan niệm có hai thứ: tình yêu chân chính và tình yêu bậy bạ. Yêu một người, lấy người đó là tình yêu chân chính.
Văn Bình cười lớn:
- Còn yêu lung tung, yêu rồi quên đi là bậy bạ, phải không em?
Quỳnh Bích lặng thinh, mân mê tấm khăn trải bàn bằng vải trắng. Văn Bình tiếp:
- Em nói đúng. Yêu lung tung, yêu rồi quên đi là bậy bạ. Anh cũng biết thế, và nhiều lần anh định bỏ nghề để quay về cuộc đời bình thường, làm người công chức sáng vác ô đi tối vác về, và lấy một người đàn bà ngoan ngoãn, biết nấu cơm dẻo canh ngọt, biết nuôi con, làm vợ. Nhưng...
- Anh làm công chức sao được?
- Em lầm rồi. Anh có thể thành một công chức tốt.
- Dầu anh muốn làm nghề cạo giấy, ông Hoàng cũng không cho, và riêng em, em cũng không cho.
- Vì sao?
- Vì đất nước đang đau khổ, cuộc chiến tranh trong bóng tối đang tới giai đoạn khốc liệt, tổ quốc còn cần những người tài ba xuất chúng như anh.
Văn Bình thở dài:
- Em thấy chưa. Tự em đã mâu thuẫn với em rồi. Chỉ có những người sống bình lặng, sống căn cơ mới yêu chân chính được như em nói. Giả sử, em làm vợ anh, một vài tuần sau em sẽ chán liền. Nhiều người vợ bác sĩ đã buồn bã khi thấy nửa đêm đang hú hí với chồng, bị điện thoại gọi gấp, chồng phải mặc quần áo ra bệnh viện đỡ đẻ, hoặc mổ xẻ cấp cứu. Cái phiền phức của nghề thầy thuốc chỉ là phần nhỏ nếu so sánh với nghề tình báo hành động.
Ban đêm bị lôi dậy là thường. Ông thầy thuốc bị đánh thức để ra bệnh viện đến sáng sẽ được về. Còn người sĩ quan gián điệp ra đi, không biết bao giờ về, và có về hay không. Trong thế chiến thứ hai, đã có một số điệp viên bị tống lên phi cơ giữa đêm tân hôn, chưa kịp vào phòng hợp cẩn, và một số phụ nữ đã trở thành vợ góa mặc dầu chưa thành thân với chồng.
Em đã nghe chuyện Abel và Lonsdale (1) chưa? Hai người phải xa vợ trong 10 năm trời, 10 năm đằng đẵng.
Bổn phận người đàn ông có vợ là phải chăm sóc cho vợ con. Nếu không săn sóc được thì đừng lập gia đình. Anh đã chọn nghề tình báo hành động, anh phải sống độc thân, không dám yêu ai hết.
- Tại sao anh còn hứa hẹn?
- Dầu sao anh vẫn là con người, con người với tất cả những sự kém cỏi của nó trước sự cám dỗ. Trong phút mềm yếu, anh thấy tình yêu là cần, nên đã hứa hẹn này nọ. Nhưng rồi bổn phận lại mạnh hơn... Do đó, anh trở nên tàn nhẫn và vội vàng. Gặp người đàn bà nào hợp tính tình, anh nói thẳng là anh yêu họ, song chỉ yêu mà không lấy được làm vợ. Và chỉ yêu nhau trong một giờ đồng hồ, hoặc trong một đêm mà thôi, rồi hôm sau mỗi người đi một ngả.
- Chắc anh cũng coi em như những người đàn bà ấy.
- Em đừng kết luận vội. Anh chưa hề nói là anh yêu em, mặc dầu trong thâm tâm anh cảm thấy em mang lại hạnh phúc cho đời anh. Anh không dám cam kết nữa, vì em ơi, anh sắp phải lên đường rồi.
Chú thích:
(1) Tức là Đại tá Abel và Thiếu tá Lonsdale (tức Conon Molody của Sở Do thám RU Xô viết. Abel hoạt động tại Mỹ, bị bắt, kết án 30 năm tù, và sau đó được đổi lấy phi công U-2 Gary Powers. Lonsdale bị bắt ở Anh và được đổi lấy thương gia Greville Wynne bị giam ở Nga xô.
Quỳnh Bích trố mắt:
- Anh đi đâu?
- Không biết. Ông Hoàng gọi anh lên bàn giấy hồi chiều, cho biết là anh sắp được nghỉ phép ít hôm trước ngày lên đường, chắc là ra Bắc.
- Ngoài ấy, mạng lưới an ninh chặt chẽ lắm, nhân viên của ta bị bắt, bị chết mỗi ngày một nhiều, sao anh không xin đi nơi khác?
- Em lại xử trí như người vợ yêu chồng, không muốn chồng lao vào công tác nguy hiểm vậy. Ông Hoàng là cấp trên, anh đã ký vào tờ giấy cam đoan cấp trên sai đi đâu thì đi liền, không bàn cãi. Vả lại, anh là đàn ông, không được quyền trốn tránh nhiệm vụ, dẫu đó là nhiệm vụ đi tìm cái chết.
Mắt Quỳnh Bích trở nên ươn ướt.
Văn Bình rót thêm rượu uýt-ky rồi nói:
- Anh cũng công nhận hoạt động ngoài ấy khó khăn hơn trước nhiều. Riêng trong vòng ba tuần lễ, Lê Tùng đã mất ba cộng sự viên tài giỏi ở phía bắc vĩ tuyến 17. Chắc là có nội phản. Có lẽ ông Hoàng phái anh ra Liên khu IV để điều tra về vụ nội phản này.
- Anh có biết bao giờ khởi hành không?
- Không. Tuy nhiên, thường lệ anh được nghỉ xả hơi một vài tuần trước ngày lên đường. Lần này, ông Hoàng cho anh nghỉ nửa tháng. Nghĩa là độ ba tuần nữa anh sẽ ra Bắc.
- Em xin phép đi theo anh được không?
- Đời nào ông Hoàng cho. Vả lại, ngoài ấy đang có nhiều nhân viên của ta.
Phổ ky đi qua, Văn Bình ngoắt tay:
- Một chai uýt-ky nữa.
Quỳnh Bích sửng sốt:
- Trời, một mình anh một chai. Anh chưa say sao?
Chàng cười:
- Ngồi nhìn em, anh dễ say hơn là uống uýt-ky. Ba chai uýt-ky thượng hạng không chứa nhiều men say bằng một cái nhìn giục giã của em.
- Cám ơn anh. Anh cứ nhìn em tha hồ.
- Và em cũng cho anh hôn em tha hồ chứ?
- Lát nữa, anh muốn ăn thịt em cũng được. Nhưng bây giờ thì van anh. Thiên hạ đang nhìn chúng ta chằm chằm.
Văn Bình nhún vai:
- Họ nhìn vì em đẹp quá. Thôi, để lát nữa cũng được. Bây giờ, để anh nói tiếp. Hiện nay ở phía bắc vĩ tuyến 17, đặc biệt là trong vùng từ Đồng hới đến Thanh hóa - mà ta gọi lóng là Cựu kim sơn - ta có 20 nhân viên trung cấp.
- Hai mươi?
- Phải, đúng hai mươi. Ba nhân viên vừa bị địch thủ tiêu chỉ là nhân viên sơ cấp. Nhân viên của ta đã thâm nhập từ lâu vào các cơ quan quan trọng của địch. Có người đã làm khu ủy của đảng Cộng sản từ hồi bí mật kháng Pháp. Có người giữ chức vụ quan trọng trong guồng máy hành chính. Có người là sĩ quan cấp tá trong quân đội.
Chắc em đã biết từ Đồng hới ra đến Thanh hóa, ngoài ấy gọi là Liên khu IV. Liên khu IV gồm các tỉnh Thanh hóa, Nghệ an, Hà tỉnh, Quảng bình và khu Vĩnh linh giáp tuyến. Phần lớn các cơ sở hậu cần cho lực lượng quân sự cộng sản xâm nhập phía nam vĩ tuyến 17 đều tọa lạc trong Liên khu IV. Vì lý do này, ta phải đặt nhiều nhân viên tại đó. Khu vực Thanh hóa, ta đặt tên trong mật mã là Ba lê, Nghệ an là Hán thành, Hà tỉnh là Đông kinh, Quảng bình là Tân gia ba, và Vĩnh linh là Vạn tượng. Tại <<Ba lê>> ta có 4 nhân viên, <<Hán thành>> có 4, <<Đông kinh>> có 3, <<Tân gia ba>> có 2, <<Vạn tượng>> cũng 2.
- Cộng lại mới 15 người.
- 5 người còn lại giữ nhiệm vụ điều chỉnh và liên lạc. Có lẽ anh sẽ gặp họ. Còn...
Sực nhớ ra, chàng ngưng bặt. Đoạn chàng nói, giọng lo ngại:
- Khổ quá, anh quên mất. Ông Hoàng đã dặn anh không được tiết lộ bí mật này cho ai.
Quỳnh Bích làm mặt giận:
- Anh nghi em làm gián điệp cho địch ư?
- Nói bậy nào. Họa là điên, anh mới ngờ vực em. Anh đã đọc hồ sơ của em trong phòng của ông Hoàng. Em được tin cậy nên mới được thuyên chuyển tới phòng anh. Tuy nhiên, những điều anh vừa nói với em, chỉ riêng ông Hoàng và mấy người nữa được biết.
- Theo em, những điều ấy chẳng có gì là bí mật. Chẳng qua làm nghề tình báo lâu năm, bị thiên lệch nghề nghiệp, mắc phải bệnh trông gà hóa cuốc đó thôi.
- Em biết một mà không biết hai. Thật ra, đó là những bí mật tối hệ. Nhân viên của ta ở phía bắc vĩ tuyến 17 liên lạc về Sài gòn bằng điện đài và mật mã. Địch đã có những cơ quan riêng để thu thanh các bức điện đánh vào trong này. Tuy nhiên, địch không hiểu được nghĩa vì không có <<chìa khóa>> mật mã. Hoặc giả chỉ hiểu lõm bõm phần nào. Giờ đây, nếu địch khám phá ra Thanh hóa ta gọi là Ba lê, Nghệ an là Hán thành, vân vân... họ sẽ tiến thêm một bước trong việc chọc thủng mật mã của ta.
Mặt khác, nếu địch biết ở Thanh hóa ta có 4 nhân viên trung cấp, ở Nghệ an có 4, vân vân... địch sẽ tổ chức theo dõi, bao vây và khám phá dễ hơn.
Mặt Quỳnh Bích hơi tái:
- Trời ơi, anh không giải thích thì em không biết gì hết.
Văn Bình nâng ly uýt-ky lên ngang mày:
- Nào, chúng mình cùng uống cho sự toàn thắng của tình yêu.
Nàng tiếp theo:
- Và của ông Hoàng.
Gió sông quạt phần phật vào mớ tóc lòa xòa của nàng. Dưới đèn nê-ông, chàng thấy nàng đẹp dội lên như nữ thần nhan sắc. Môi nàng hồng hồng như vừa được tô son. Thân thể nàng bỗng lả lướt như sắp tan ra thành khói. Trong cơn say mê, Văn Bình nắm lấy bàn tay trắng muốt của nàng.
Run rẩy, nàng nói:
- Hai đứa mình về đi.
Văn Bình gọi bồi tính tiền, chợt nàng đứng dậy.
- Anh chờ một lát, em vào phòng tắm.
Vào phòng tắm để trang điểm lại trước khi rời tiệm ăn là thói quen bất dịch của đàn bà đẹp. Chàng nhìn theo cái mông tròn trĩnh của nàng. Không riêng gì chàng, toàn thể thực khách đều buông đũa nhìn theo bằng cặp mắt thèm khát. Một ý nghĩ ham muốn rạo rực nhú lên trong lòng Văn Bình, song chàng nén được ngay.
Đêm nay, chàng có nhiều việc phải làm. Chàng trả ba ngàn bạc một bữa ăn, không phải để ngắm cái mông khêu gợi của cô thư ký dễ dãi. Mặc dầu người trả tiền là ông Hoàng, là Sở Mật vụ.
Vào phòng tắm, Quỳnh Bích chỉ thoa son sơ sài, và không cần sửa lại mái tóc bị rối. Nàng còn phải làm một việc quan trọng hơn là việc tô môi và chải đầu để làm vừa lòng Văn Bình.
Nàng mở cái hộp đựng giấy vệ sinh ra, lấy cả cuộn đặt lên mép lavabô. Loại giấy này được chia ra từng khoảng, mỗi khoảng dài một tấc, châm bằng mũi kim, giật nhẹ là văng ra.
Quỳnh Bích đếm đúng 5 miếng, nàng giật nhẹ miếng thứ 6, đưa lên ánh đèn xem. Trên tờ giấy, nàng đọc thấy một con số 8. Phía dưới là số 21.
Nàng vo tròn miếng giấy vứt vào cầu tiêu, giật nước ồ ồ. Trong chớp mắt, miếng giấy không còn nữa. Nàng đặt cuộn giấy vệ sinh vào hộp như cũ, liếc vào gương để xem xét lại nét mặt, đoạn khoan thai ra cửa.
Thấy nàng, Lê Bình nhoẻn miệng cười âu yếm. Gió sông vẫn thổi lên mát rượi. Chàng dìu nàng qua cầu thang bắc từ đường cái lên tiệm ăn. Nàng đi nép bên chàng, thân mật như vợ với chồng.
Lê Bình lái chiếc Corvette sơn trắng ra đại lộ Nguyễn Huệ. Chàng hỏi nàng:
- Chúng mình đi chơi một vòng rồi ra Mỹ Phụng nhé?
Nàng lắc đầu:
- Nhảy chán chết.
- Vậy em về với anh.
- Thôi, em sợ chị Nguyên Hương lắm. Chị ấy ăn thịt em đi.
- Nguyên Hương không phải là vợ anh.
- Song chị ấy không cho phép ai léo hánh đến anh.
Văn Bình thở dài:
- Chẳng qua em kiếm cớ không đến với anh đó thôi.
Nàng hôn nhẹ vào má chàng:
- Nếu anh muốn, đêm nay về phòng em.
Quỳnh Bích mở xắc tay đưa cho chàng một cái chìa khóa:
- Em có hai cái chìa, biếu anh một. Anh nên cẩn thận, người khác thấy thì chết. Em không muốn mang tiếng là rước trai về phòng ban đêm.
- Bây giờ, anh đưa em về Mạc đỉnh Chi nhé?
- Không. Em phải vào nhà chị bạn gần chợ Bến Thành. 12 giờ đêm, em sẽ chờ anh ở nhà.
Nàng xuống xe, đi thoăn thoắt trên lề đường đông đúc. Tối thứ bảy đầu tháng, đường phố Sài Gòn đông như hội, nhất là đường Tự Do, và Lê Lợi quanh chợ Bến Thành.
Mùi nước hoa Vent-Vert thoang thoảng trong xe. Văn Bình thở dài lẩm bẩm một mình:
- Đáng thương cho nàng.
Chàng sang số lái chiếc Corvette tối tân ra bờ sông. Chàng muốn hít đầy phổi bầu không khí trong lành của sông Sài Gòn. Chàng đã biết nàng đi đâu. Chàng thương hại nàng vì nàng đang được dùng làm con vật hy sinh trong sự đấu trí ghê gớm giữa hai lực lượng điệp báo không đội trời chung: Sở Mật vụ của ông Hoàng, và tổ chức tình báo Bắc Việt.

*

Quỳnh Bích tạt vào một tiệm tạp hóa xế cửa rạp chiếu bóng Vĩnh Lợi, giả vờ hỏi mua một thỏi son, thứ son đắt tiền của Pháp mà nàng biết là không có. Nàng cần ở trong ra để xem xe hơi của Văn Bình đã đi chưa. Đến khi chiếc Corvette khuất sau bùng binh, nàng mới bước ra ngoài.
Bữa ăn với Văn Bình tại nhà hàng Mỹ Cảnh vừa mang một tia nắng ấm cho cuộc đời rét lạnh của nàng. Thật vậy, mặc dầu nàng có sắc đẹp phi thường, được hàng trăm người đàn ông thầm thương trộm nhớ, sẵn sàng làm nhà bằng vàng để cưới nàng làm vợ, nàng vẫn phòng không lẻ bóng.
Lắm mối, tối nằm không. Câu phương ngôn bình dân này hoàn toàn đúng với cuộc sống của nàng. Lòng nàng chưa rung động vì ai, tuy đã nhiều lần nàng lưu lại suốt đêm trong phòng người đàn ông lạ. Nàng coi các cuộc đi lại với nam giới là nhu cầu cần thiết để cơ thể và tinh thần được quân bình, ngoài ra nàng chưa tìm thấy trong đó một chút thi vị nào hết.
Bỗng nàng gặp Văn Bình.
Không hiểu vì nguyên nhân nào, nàng được chuyển lên làm thư ký riêng cho Văn Bình. Dĩ nhiên, nàng không thể biết được đó là ý muốn của ông Hoàng.
Vừa giáp mặt, nàng yêu chàng ngay. Yêu đến mức độ có thể điên cuồng vì chàng. Nếu chàng bắt nàng làm nô lệ trọn đời, nàng cũng không từ chối. Nàng đã vô cùng đau khổ khi được biết Văn Bình có nhiều người yêu, người nào cũng có nhan sắc tuyệt trần không thua kém nàng, mà còn có thể vượt hơn nàng nữa. Nàng tin Văn Bình sẽ dành cho nàng những tình cảm đặc biệt.
Song một chướng ngại vật đã chắn ngang mối tình đẹp đẽ của họ. <<Họ>> muốn nàng yêu chàng. Nhưng yêu để lợi dụng chàng, không phải yêu một cách chân thật và tha thiết. Nàng cố cưỡng lại, nhưng từ nhiều tuần nay nàng đã vô tình trở thành chiếc xe xuống dốc bị đứt thắng, phó mặt cho định mạng.
Lát nữa, nàng sẽ gặp <<họ>>, và nàng quyết nói thẳng cho <<họ>> biết. Nàng không thể kéo dài cuộc sống đau khổ này mãi. Nàng phải tiến tới một quyết định dứt khoát, rồi <<họ>> muốn đối phó với nàng ra sao tùy ý.
Đang vui, mặt nàng sa sầm. Quang cảnh náo nhiệt đêm cuối tuần càng làm nàng hiu quạnh và buồn bã thêm.
Quỳnh Bích dạo một vòng quanh chợ. Đến quán trái cây, nàgn dừng lại mua một ký lô nho đỏ.
lấm lét nhìn tứ phía. Nàng có cảm tưởng như hàng trăm cặp mắt vô hình đang theo dõi nàng để bắt nàng quả tang liên lạc với « họ ».
Tim nàng đập thình thịch. Nàng dừng lại lần thgứ ba, quay về phía sau.
Tịnh không một bóng nào khả nghi. Thiên hạ đang mua sắm vui vẻ, không ai để ý đến một thiếu phụ lang thang quanh chợ Bến thành với một tâm trạng nát bét như tương. Tới khi biết chắc không bị theo, nàng mới vẫy taxi, ngồi gọn vào góc, dặn lái lên Đakao. Được nửa đường, nàng xuống xe, vẫy xích lô đi lộn lại. 5 phút sau, nàng lại trèo lên taxi đến rạp hát Kim chung ở cuối đường Hồng thập tự.
Các quán nhậu gần cổng xe lửa đông nghẹt người, xe đạp, xe vespa xếp đầy vỉa hè, lan ra ngoài đường. Trước rạp hát, một đám đông nói chuyện ồn ào. Quang cảnh này rất thuận tiện cho một cuộc gặp gỡ gián điệp.
Quỳnh Bích đã thuộc lòng hai chữ số viết trên miếng giấy vệ sinh của nhà hàng Mỹ cảnh : 8 và 21. 8 nghĩa là buổi gặp sẽ diễn ra đúng 9 giờ rưỡi. Giờ gặp chậm hơn giờ ghi trên giấy 1 tiếng rưỡi. Chẳng hạn lấn trước, họ viết lên giấy con số 10, nàng phải có mặt tại địa điểm đúng 11 giờ rưỡi đêm.
Con số 21 là ám hiệu địa điểm. Mội tháng gặp một lần, vào tối thứ bẩy đầu tháng, theo lịch tiếo xúc đã được định trước. Hết 3 tháng « họ » lại thay địa điểm. Con số 21 có nghĩa là nàng phải tới trước rạp cải lương Kim chung.
9 giờ rưỡi tối, trước cửa rạp Olympic.
Nàng nhìn đồng hồ. Còn một phút nữa đến 9 rưỡi. Theo thủ tục nghề  nghiệp, nàng không được đến sớm, cũng như không được đến chậm và chỉ đợi lâu nhất là 5 phút. Buổi sáng của ngày hẹn, nàng phải lấy lại đồng hồ, theo đài bá âm BBC, hồi 6g45.
Mỗi lần đến gặp « họ » Quỳnh Bích đều lo sợ . Đúng ra, nàng đã được huấn luyện kỹ càng về nguyên tắc tình báo, song nàng được học để thi hành mạng lệnh của ôg Hoàng, không phải để phản bội ông Hoàng, phản bội chế độ SaiGòn.
Nàng đứng lại, hai chân run run. Nàng vứt tờ bạc 10 đồng vào tủ gương của bà bán thuốc lá để lấy một gói kẹo cao su bạc hà. Nàng muốn nhai kẹo cao su cho hàm răng khỏi đập vào nhau lập cập, và mùi bạc hà thơm nóng sẽ làm thân thể nàng bớt lạnh.
9 g30
Giờ hẹn đã đến.
Nàng bước ra sát lề. Một chiếc Citroën cũ kỹ sơn đen chạy qua từ từ, đến chỗ nàng đứng, lái vào. Nhanh nhẹn, nàng mở cửa trước trèo lên. Tài xế xả ga, quẹo sang trái, vào đường Trần Quí Cáp.
Quỳnh Bích liếc nhìn tài xế. Hắn trạc 40 tuổi, gương mặt lầm lì dường như từ nhỏ đến lớn chưa bao giờ cười một tiếng. Cặp mắt hắn sang một cách lạ lung, nàng có cảm giác mắt hắn phun ra những tia thép lạnh lẽo, chứa đầy chết chóc.
Bất giác, nàng nhìn hai bàn tay đặt trên vô lăng. Đó là bàn tay đặc biệt của kẻ chuyên nghề giết người. Bàn tay to lớn, long lá rậm rì, ngón vuông và ngắn, nếu bóp vào cổ nàng chỉ một giây đồng hồ là dập xương sống.
Nàng rung mình, ớn lạnh. Trong xe chỉ có nàng và tài xế. X era đến đường Cao thắng, hai người vẫn không nhìn tận mặt nhau và nói với nhau một lời.
Tài xế rẽ vào đường Phan đình phùng, đôi mắt cú vọ dán vào tấm kính chiếu hậu to tướng. Nàng nhận thấy kính xe Citroën này lớn gấp hai kính thường. Chủ nhân của nó phải là người sợ bị công an theo sau.
Xe vòng ra Lý thái Tổ rồi đến đại lộ Trần quốc Toản. Một lát sau, tài xế lại trở về đường Cao thắng, lộn lên Phan đình Phùng. Qua khỏi trạm xăng Phan đình Phùng, tài xế đậu xe sát lề, dắt Quỳnh Bích đi bộ một quãng, rồi tạt vào ngõ hẻm gần Vườn Chuối.
Hắn dừng trước một căn nhà lầu nhỏ bằng gỗ, bên ngoài có lan can sơn trắng. Ánh đèn của một quán giải khát kế cận chiếu hắt vào mặt Quỳnh Bích. Như cái máy, nàng theo người lạ vào trong nhà.
Đó là một ngôi nhà trống không, có người ở. Hắn mở đèn, mời nàng lên lầu, cầu thang gỗ kêu ọp ẹp. Nàng bám lấy tay hắn cho khỏi trượt chân vì đế giày nàng bằng sắt, vừa cao, vừa nhọn hoắt.
Cửa trên gác đều đóng kín. Hai ngọn đèn nê ông sang rực phô bày những đồ gỗ cũ kỹ, trơ trẽn. Mùi ẩm mốc xông lên, nàng muốn lộn mửa.
Gã đàn ông lại bàn vặn máy thu thanh, lựa một bản nhạc mạnh. Hắn là kẻ ghét cay, ghét đắng âm nhạc. Hắn phải mở nhạc để át tiếng nói chuyện của hai người.
Bây giờ, Quỳnh Bích mới có dịp nhìn kỹ người lạ. Mặc dầu nàng gặp hắn nhiều lần, nàng vẫn coi hắn là người lạ. Trán hắn nhô ra một cách bướng bỉnh, mũi và tai đều dẹp bí, tố cáo hắn là kẻ quen với cuộc sống trên võ đài quyền Anh. Đặc biệt là tay hắn dài như tay vượn, hai vai tròn đầy thịt rắn chắc, bắp thịt nổi cuồn cuộn sau chiếc sơ mi ngắn bằng vải NylFrance màu xám.
Đợi máy thu thanh chạy đều, hắn quay về phía nàng, giọng khô khan và cộc lốc:
- Cô có gì không, đưa cho tôi.
Nàng lắc đầu:
- Lần này, tôi không lấy được gì hết.
- Còn cuộc nói chuyện tại nhà hang Mỹ cảnh với Văn Bình?
- Chúng tôi chỉ nói chuyện tâm tình với n hau, không có gì lien quan đến công việc.
- Cô vẫn có tính lạ lung như thế. Cô say mê hắn rồi phải không? Nó đã khét tiếng là chim gái vô địch. Biết bao cô gái nhẹ dạ đã sa vào lòng nó. Cô có biết chúng tôi mất bao tâm cơ mới chuyển được cô tới phòng làm việc của nó không? Chúng tôi đặt cô làm thư ký riêng cho nó, là để lấy tin, lấy tin nghe chưa, không phải để cô biến thành tình nhân của nó.
Quỳnh Bích dằn cái xắc xuống bàn:
- Ông không có quyền đi vào đời tư của tôi. Mặt khác, tôi yêu cầu ông đối xử với tôi một cách nhã nhặn hơn nữa.
Phản ứng bất ngờ của Quỳnh Bích làm người lạ sửng sốt. Trong thâm tâm, hắn cho nàng là hòn bột, muốn nặn thành hình nào cũng được. Hắn không ngờ nàng dám cãi lại. hắn nghiến răng ken két:
- Cô Quỳnh Bích, đã làm nghề này không có đời tư hay đời công nữa. Chỉ có một cuộc đời thôi. Đời lấy tin cho Tổ chức. Cô có bổn phận phải hy sinh tất cả những thú vui để làm tròn công việc do Tổ chức giao phó. Tôi là người sống quen với lưỡi dao, mũi súng từ lâu rồi nên quên mất cách vuốt ve đàn bà trưởng giả như cô. Tôi nhắc cho cô biết: tôi không có thời giờ mơn trớn cô, dỗ dành cô. Việc đó để dành cho tình nhân của cô. Còn tôi là thượng cấp, tôi bắt cô tuyệt đối tuân theo mạng lệnh.
Quỳnh Bích cầm cái xắc da, khoác giây đeo vai:
- Chào ông. Bắt đầu từ phút này, tôi rút ra khỏi Tổ chức. Ông muốn làm gì tôi thì làm.
Gã đàn ông phá lên cười. Tiếng cười rùng rợn như ma hiện lên hăm dọa người yếu bong vía át cả tiếng nhạc từ máy thu thanh phát ra. Nghe hắn cười, Quỳnh Bích xây xẩm mặt mày, phải vịn lấy ghế để khỏi té ngã.
Lần thứ nhất, nàng nghe hắn cười. Có lẽ từ nhiều tháng nay, hắn mới cười lần thứ nhất. Cái cười ngạo nghễ và hiểm ác của hắn soắn vào da thịt nàng, như hàng trăm mũi kim. Nàng có cảm giác kỳ lạ như tiếng cười của hắn là con dao bén sắc vung lên quanh người nàng, làm quần áo nàng rách nát và tuột xuống, để lộ thân thể trần truồng, rồi những điếu thuốc lá cháy đỏ được dí vào ngực nàng, vào đùi nàng, mùi mỡ khét lẹt dâng ngập gian phòng …
Đang cười hô hố, đột nhiên hắn mím miệng lại, mắt long lên song sọc. Hắn nhìn thẳng vào giữa mắt nàng, giọng như dao chém đá:
- Cô Bích, cô đã lớn rồi, không còn con nít nữa, cô muốn trung thành hay phản bội, tùy ý. Tôi cho phép cô về nhà nghĩ ngợi đên may, mai mốt ta sẽ gặp lại. Nếu cô quyết tâm rút lui, tôi cũng không ngăn cản.
Hắn cũng đứng dậy. Dáng điệu chậm chạp, hắn đánh diêm châm điếu Lucky. Mùi thuốc lá thơm thơm lôi Quỳnh Bích trở về thực tại. Mắt nàng đỏ hoe như người mất ngủ hang tuần lễ. Nàng uể oải theo người lạ xuống cầu thang gỗ sộc sệch.
Đột nhiên, người lạ nói:
- À, suýt nữa tôi quên mất. Số tiền cô gởi  về đã đến tận nơi. Mẹ cô nhờ chúng tôi tôi chuyển bức thư này choc ô.
Tay nàng run run, chân khụy lại, đứng không vững. Nàng nói :
- Thư của mẹ tôi, xin ông cho tôi coi.
Đút tay vào túi định lấy, chợt người lạ lắc đầu :
- Thôi, tôi không đưa choc ô nữa. Cô nên cắt đứt liên lạc với gia đình ngoài ấy là hơn :
Nàng nắm tay hắn, giọng van vỉ :
- Như thường lệ, ông cho tôi đọc ở đây, tôi không dám mang về đâu. Xin ông cho tôi đọc lần chót.
Gã đàn ông nhún vai :
- Thượng cấp của tôi ra lệnh chỉ đưa thư cho cô đọc nếu cô không có thái độ tráo trở. Bây giờ cô đã đặt tình yêu xác thịt lên trên nhiệm vụ … Cô thích được ngủ đêm với một gã đàn ông đẹp trai sở khanh hơn là nghĩ đến gia đình và 8 đứa em ở quê nhà … Lẽ ra, tôi xé nát, không đưa cho cô nữa … vì cô không xứng đáng. Như g vì tình nhân đạo, tôi chiều cô lần chót, lần chót, cô nhớ chưa ?
Quỳnh Bích ngồi phịch xuống ghế, cầm tờ giấy trắng chi chít chữ viết tay ngòng ngỏeo, giơ lên ánh đèn. Bức thư do Mộng Huyền, em gái thứ hai của nàng viết giùm cho Mẹ. Nét chữ quen thuộc của đứa em thân yêu trải ra trước mặt nàng. Bức thư như sau :
« Thị xã Thanh hóa, ngày … tháng … năm …
Chị Mộng Hoài yêu dấu,
Nhận được thư và 10 lạng vàng của chị, cả nhà như chết rồi vừa được sống lại. Chị nói rằng trong đó 10 lạng vàng chưa đầy một trăm ngàn đồng, chị kiếm dễ như chơi, nhưng chị ơi ở ngoài này, 10 lạng vàng là món tiền to ngoài sức tưởng tượng, và trong chớp mắt, nhà ta trở thành giàu sụ.
“Chị ơi, nhờ chị làm việc với chính phủ ta mà gia đình được hoàn toàn hạnh phúc. Tuần qua, ông chủ tịch ủy ban ban tỉnh về tận nơi thăm mẹ, mang thuốc tây cho mẹ, và hứa cấp cho một cái trại ở làng Vệ yên. Làng Vệ, cách thị xã 5 cây số, hồi nhỏ chị thường xuống ấy chơi mà …
“Cả nhà vừa dọn xuống trại cách đây hai hôm. Trại ở ven sông, có nhiều cây trái xum xuê, và một ngôi nhà khang trang. Ông chủ tịch ủy ban cho biết chính phủ và nhân dân ta biết ơn chị đã hy sinh cho chính nghĩa, hoạt động hiểm nguy trong vùng địch, nên từ nay trở đi các em sẽ không phải đi dân công, phiếu mua thực phẩm và vải sẽ được tăng gia tới mức vô tận. Muốn mua gì ủy ban sẽ cấp phiếu, nếu không có tiền, ủy ban sẽ biếu không.
“Mẹ mắc bệnh lao phổi từ ba năm nay. Thuốc trụ sinh ngoài này rất đắt, có tiền cũng không mua được, phương chi gia đình ta khánh kiệt từ ngày thầy thất lộc, tiền bạc dành dụm đã tiêu pha hết, thậm chí nữ trang của mẹ, của em và đồ đạc trong nhà phải đem bán cũng không đủ ăn.
“Nhờ thuốc trụ sinh quý giá Hung ga ri và thuốc bổ Trung quốc do ông chủ tịch mang tới tặng mẹ; mẹ đã ăn được cơm, và trở nên hồng hào. Cứ đà này, chỉ một vài tháng nữa, mẹ sẽ khoẻ mạnh như cũ.
“Chị Mộng Hoài ơi! Mẹ ngồi bên em đọc thư này cho em viết hầu chị. Lệ thường, mẹ chỉ ngồi 5, 10 phút là đau lưng, hoa mắt, nhưng lần này mẹ ngồi hơn một giờ vẫn không mệt, trái lại còn khỏe ra nữa. Mẹ có sức lực là nhờ chị, nhờ sự hy sinh vô bờ bến của chị. Chúng em có cơm ăn, có áo mặc, được cắp sách đến trường, cũng là nhờ sự hy sinh vô bờ bến của chị.
“Chị Mộng Hoài ơi, ông chủ tịch dặn mẹ em phải giữ kín số vàng chị gởi về, và giữ kín sự biệt đãi của ủy ban tỉnh đồi với gia đình ta, vì nếu bại lộ, gián điệp đế quốc sẽ phăng ra và có hại cho chị. Ông chủ tịch nói rằng nếu địch biết chị gởi thư và nhất là gởi vàng về Bắc, chị sẽ bị đem bắn tức khắc, không cần xét xử. Vì bậy, chuyện tiền nong và thư từ, chỉ có mẹ và em biết thôi.
“Hồi chị ở nhà, con Mộng Hương nhỏ tí xíu, bây giờ lớn nhanh như thổi. Nó giống chị như đúc, ai nhìn cũng mê. Nó đã hứa hôn rồi đấy, chị sợ chưa? Chồng chưa cưới của nó sắp tốt nghiệp bác sĩ y khoa. Kể ra, em còn hằng trăm, hằng ngàn chuyện muốn nói với chị, song ông chủ tịch dặn em là thư viết cho chị chuyển vào Nam bằng đường riêng, nên em viết càng ngắn, càng tốt.
“Bây giờ nếu chị về quê, chị sẽ không tài nào nhận ra em nữa. Em cũng cao như chị và trắng như chị. Dĩ nhiên là không đẹp bằng. Nhưng chị ơi, trên trái đất này tìm được một người đẹp hoàn toàn như chị của em đâu phải dễ.
“À, ông chủ tịch còn cho biết niên học sắp tới thằng Ngọc, Bôi và Châu sẽ được sang Trung quốc học. Buồn cười lắm chị ạ, ba đứa mỗi đứa học một ngành khác nhau, thằng Ngọc mê chăn nuôi nên ghi học Nông lâm súc, thằng Bội lại theo ngành điện, còn thằng Châu, ngành y khoa. Nhờ chị, ba em trai của chúng ta sắp sửa thành người.”
“Ông chủ tịch lại nói với mẹ và em rằng đời sống của gia đình ta còn được cải thiện hơn nữa, nếu ở trong Nam chị cố gắng thêm. Em biết là chị sẵn sàng hy sinh cho mẹ và cho chúng em, nên đêm nào trước khi lên giường ngủ, em cũng chắp tay cầu nguyện cho chị được thêm sức khoẻ, nhất là được thêm sáng suốt tinh thần để phục vụ cho tổ quốc.
“Theo lời ông chủ tịch, bọ đế quốc đã tung ra nhiều tiền bạc, nhiều xa xỉ phẩm, làm con người mềm yếu, thiếu lý tưởng dễ bị lung lạc.
“Chúng em tin ở chị, chính phủ ta cũng tin ở chị.
Chị Mộg Hoài yêu quý của chúng em ơi, em còn thua chị 4 tuổi, em lại ít học, thiếu kinh nghiệm của trường đời, em đâu dám khuyên chị, huống hồ em lại hàm ơn chị đến ngàn năm sau, cũng chưa trả hết. Em nói vậy để chị hiểu rằng lời sau đây là của mẹ dặn em viết cho chị.
“Mẹ ân cần dặn chị nên cẩn thận, lưu lại ở nơi đồng đất nước người, đừng bao giờ quên lãng quê hương. Nếu chị gặp chuyện gì, ở đây mẹ phải chết, gia đình ta sẽ đau khổ, nhục nhằn.
Thư ngắn, tình dài, chị đọc kỹ và suy ngẫm tất sẽ hiểu rõ ý mẹ.
“Gia đình xin chúc chị một mùa Xuân trẻ đẹp và tin tưởng.”
“Em của chị
Mộng Huyền.”
Những giòng chữ bằng mực bút máy múa nhảy trước mắt Quỳnh Bích. Nàng không thể lầm được, nét chữ nhỏ nhắn, càng viết càng nghiêng sang bên phải, chữ g và chữ h ngoèo như con dun, là của Mộng Huyền, đứa em gái gần hai mươi, có đôi mắt to và đen, khuôn mặt dài, cái miệng chúm chím như nàng. Nàng cũng không thể lầm được: nét chữ uyển chuyển này là của cái ngòi bằng vàng 18 cara, lắp trong bút máy Parker màu xanh lá mạ mà nàng nhờ “họ” gởi về Bắc tặng em tháng trước. Chiếc Parker, nàng mua tại Hồng kông trong một chuyến du lịch cuối năm, và đã dùng để viết nhật ký. Gởi cho em gái, nàng đã chuyển về quê nhà xa xôi một phần tâm tư khắc khoải của nàng.
Nàng buông thư xuống bàn, nhìn gã đàn ông. Hắn thản nhiên nhìn nàng bằng cặp mắt ráo hoảnh.
Bỗng nàng ôm mặt khóc, rưng rức. Gã đàn ông đánh diêm hút thuốc, vẻ mặt hả hê. Lá thư quê hương đã hoàn toàn thay đổi ý định của nàng.
Trước khi lên xe Citroën đến chỗ hẹn, Quỳnh Bích quyết định dứt bỏ cuộc sống pản bội. Song nàng không thể bỏ mẹ chết vì bệnh lao phổi trong túp lều tranh xiêu vẹo ở ngoại ô Thanh hóa. Nàng không thể mặc đàn em dại đi chăn trâu, gặt lúa và dệt vải cho hợp tác xã để kiếm tiền đong gạo hàng ngày. Nàng yêu Văn Bình, song nàng không thể vì một người đàn ông mà xô đẩy gia đình vào vòng đói khổ. Cuối thư, em gái nàng đã bảo ngầm cho nàng biết: Nếu nàng bỏ “họ”, gia đình ở Bắc sẽ bị khủng bố.
Gã đàn ông lặng lẽ rút mù soa cho nàng lau nước mắt. Quỳnh Bích ngồi yên một lúc.
Đoạn, nàng nói, giọng sắc như đao:
- Vâng, tôi xin nghe theo lời ông.
Chú thích:
(1) chuyện này đã được tường thuật trong bộ truyện <<Đêm cuối cùng của tử tội>> sắp xuất bản