THIÊN THỨ TƯ
GỬI CON Ở THÀNH BẠCH ĐẾ
Chương XIII
QUAN VŨ ĐỂ MẤT KINH CHÂU

Tiên chủ quả cảm mà khoan hậu, chiêu hiền đãi sĩ. Có phong thái của Hán Cao tổ, khí chất của bậc anh hùng. Đến khi gửi con và ủy thác việc nước cho Gia Cát Lượng mà tấm lòng không chút nghi ngờ, đúng với đạo quân thần, tất cả vì việc công, là tấm gương sáng tự cổ chí kim vậy (Tam quốc chí của Trần Thọ).
uan Vũ vẫn cậy tài, ngạo mạn, một mình một đường, khiến các tướng lĩnh trong quận, đối với ông ta thì sợ hãi hơn là tôn kính.
Với một tướng lĩnh như vậy mà phụ trách nhiệm vụ quân sự đơn thuần, tự nhiên là có thừa rộng rãi, nhưng để phụ trách việc phòng ngự Kinh Châu, mảnh đất nóng bỏng về chính trị, thực ra lại là không thích hợp.
 
1. Kinh Châu, đất binh gia tranh giành.
Cuối năm Kiến An thứ 24, phát sinh câu chuyện mượn Kinh Châu và mất Kinh Châu rất nổi tiếng trong tiểu thuyết và sân khấu. Ở ba vị trí quân sự quan trọng tại Kinh Châu là Tương Dương, Phàn Thành và Giang Lăng, ba thế lực Tào Tháo, Lưu Bị và Tôn Quyền thường giao tranh liên tục khó phân địch ta, biến hoá khôn lường, khiến quan hệ hợp tác Tôn - Lưu đổ vỡ, hai nước đả kích nhau nghiêm trọng. Đặc biệt là ở Kinh Châu luôn bị vây hãm bởi Nguỵ Ngô tham lam, đối với chiến lược chia ba chân vạc của Gia Cát Lượng, lấy đó làm bàn đạp bắc phạt Trung Nguyên khôi phục nhà Hán, hiện tại đang bị những đòn chí mạng. Đối với diễn biến chiến tranh ở đấy, nhiều cuốn sách đã mô tả cặn kẽ, xin không kể lại. Ở đấy với vị trí chiến lược của Kinh Châu, chiến thuật được vận dụng vào mặt trận phức tạp này có ảnh hưởng về sau, phân tích đầy đủ, để độc giả có thêm nhận thức và hiểu rõ ảnh hưởng của cuộc chiến tranh này với sự nghiệp suốt đời của Gia Cát Lượng.
Nếu như lấy bản đồ địa lý mà xem thế ba chân vạc Ngụy, Thục, Ngô, Kinh Châu là vùng tiếp giáp với ba nước, bởi thế có vị trí chiến lược rất quan trọng. Gia Cát Lượng trong Long Trung Sách đã phân tích:
Kinh Châu phía bắc dựa vào địa điểm của Hán Giang và Miện Thủy, phía nam lại có nguồn của cải của Nam Hải, phía đông liền với nước Ngô, phía tây thông với Ba Thục, là đất binh gia tranh giành vậy.
Nếu lấy các châu quận của nhà Hán mà nói, thì Kinh Châu lớn nhất, tổ chức cũng phức tạp nhất. Ở đấy, xưa kia là lãnh địa của nước Sở, trong văn hoá Trung Hoa, nước Sở có sắc thái riêng, có nhiều chỗ khác với Trung Nguyên. Do địa hình rộng lớn, lại phức tạp, giao thông nội bộ không đủ phương tiện, hình thành nên hình thể chính trị phân tán mang tính liên minh truyền thống nước Sở. Các bộ lạc có tính độc lập cao, có văn hoá riêng. Trong chiến tranh diệt Tần lập Hán, quân Sở có vai trò rất quan trọng, đến như Hán Cao tổ Lưu Bang cũng xuất thân từ quân Sở. Hán Sở tranh hùng nói xuyên suốt thực ra là Lưu Bang thuộc phái thứ hai kết hợp với các chư hầu khác, cùng với Hạng Vũ thuộc chính phái tranh giành thiên hạ. Sau khi vương triều nhà Hán thành lập, đối với tình hình nước Sở khá đau đầu, đã cố gắng giữ nguyên trạng thái cũ, về hành chính đã thiết lập Kinh Châu, về quản lý thì vẫn phân tán.
Phạm vi Kinh Châu rất lớn bao quát những vùng Hà Nam, Hồ Bắc, Hồ Nam, Giang Tây, Quý Châu và một phần Quảng Tây ngày nay. Nam bắc kéo dài mấy nghìn dặm, quản lý rất khó khăn, hình thể hành chính chia làm hai phần nam và bắc.
Lưu Biểu từ quân “không hàng” trở thành Thứ sử Kinh Châu, danh nghĩa là người đứng đầu quân chính ở Kinh Châu, thực ra quyền hành của ông ta chỉ ở quanh vùng Tương Dương mà thôi.
Năm Kiến An thứ 13, Tào Tháo nhân lúc Lưu Biểu bệnh nặng, triển khai xâm lấn, chiếm ba quận phía bắc Trường Giang là Nam Dương, Giang Hạ, Nam Quận. Sau trận Xích Bích, Tào Tháo rút về phía bắc lấy Tương Dương làm phòng tuyến mới; sau chiến dịch Giang Lăng toàn bộ Nam Quận đều về tay Đông Ngô, Chu Du lập thành lũy tiền tiêu ở Giang Lăng; quận Giang Hạ tuy phần lớn do quân Tào khống chế, nhưng vùng đông nam thì rơi vào tay quân Đông Ngô.
Để tăng cường khống chế, Tào Tháo ngoài quận Nam Dương còn tăng cường củng cố Tương Dương và Ngụy Hưng, thêm vào với hai quận cũ là Giang Hạ và Nam Dương, thành ra bốn quận (về sau lại đặt thêm các quận Nam Hương, Nghĩa Dương, Tân Thành, Thượng Dong thành ra tám quận).
Trong thòi kỳ đại chiến Xích Bích, Đông Ngô tuy đoạt được quyền không chế một phần Nam Quận giáp với Trường Giang, nắm được vùng giữa Kinh Châu, song Lưu Bị lại nhân cơ hội chiếm lĩnh bốn quận phía nam là Trường Sa, Quế Dương, Linh Lăng, Vũ Lăng và một phần quận Giang Hạ, chẳng những cải tử hồi sinh cho sự nghiệp của mình, mà còn có đại bản doanh rất quan trọng để sau này giành thiên hạ.
2. Chiến lược “mượn Kinh Châu” của Lỗ Túc.
Đối với việc Lưu Bị bỏ sức rất ít lại giành được rất nhiều, tâm trạng của Tôn Quyền và Chu Du chất đầy những ghen ghét và bất mãn, song vận may của Lưu Bị lại không dừng ở đấy.
Hai năm sau đại chiến Xích Bích, Tào Tháo vẫn không ngừng lấn xuống phía nam gây sức ép quân sự, chiến tuyến Hợp Phì phía đông và Giang Lăng phía tây cùng lúc rất căng thẳng, hơn nữa ở phía tây sau khi đại đô đốc Chu Du qua đời, Tôn Quyền lại càng đau đầu lo lắng việc phòng thủ Giang Lăng.
Chu Du trước lúc lâm chung, tiến cử Lỗ Túc, một người rất thân với mình, song lại có nhiều ý kiến tương phản làm người kế nhiệm. Lỗ Túc là một nhà quân sự, ngoại giao có tư tưởng chiến lược hoàn chỉnh hàng đầu đời Hán Mạt. Ông ta đề nghị với Tôn Quyền mau chóng mang Nam Quận trong đó có Giang Lăng cho Lưu Bị mượn, để Lưu Bị phụ trách nhiệm vụ chủ yếu phòng ngự phía tây, quan hệ hữu hảo Tôn - Lưu cũng đạt được đỉnh cao nhất.
Tôn Quyền lấy Trình Phổ làm Thái thú Giang Hạ, Lỗ Túc Thái thú Hán Xương, đóng quân ỏ Lục Khẩu, là phòng tuyến thứ hai, tùy thời chi viện và giám sát việc làm của Lưu Bị.
Tuy “Tam quốc diễn nghĩa” thường miêu tả Lỗ Túc là người thực thà luôn bị người ta khinh nhờn, thực ra Lỗ Túc tinh tế mà quả cảm, ông ta có hoài bão lớn, tầm nhìn xa, lại thấu thị với diễn biến tình hình. Chiến lược mượn Kinh Châu kể cũng khá cao tay, chẳng những ổn định cơ sở liên minh Tôn - Lưu, cũng khiến Tào Tháo phải tuyệt vọng với ý đồ thống nhất, nếu hai bên thực sự duy trì lâu dài quan hệ hợp tác như thế, sau này vận mệnh của Đông Ngô và Thục Hán sẽ được lâu dài.
Đáng tiếc tầm nhìn chiến lược của Tôn Quyền và Lưu Bị đều chẳng bằng Lỗ Túc, Gia Cát Lượng lúc đó ảnh hưởng cũng có hạn chế. Quan Vũ, Lã Mông, tuy là những nhà quân sự thiên tài song đều đứng ngoài ngoại giao, hoặc quá hăng hái tham muốn lập công, khiến quan hệ Tôn - Lưu rất căng thẳng, thậm chí còn gây ra bi kịch làm dao động cả hai nước.
Trước đây Gia Cát Lượng quản lý Kinh Châu, đã cùng Trương Phi và Triệu Vân dẫn quân vào Thục, bởi muốn đối phó hữu hiệu với danh tướng Tào Nhân ở Tương Dương, Gia Cát Lượng đã đặc biệt đế lại Quan Vũ, một tướng lĩnh nổi tiếng dũng mãnh danh vọng rất cao trấn giữ Giang Lăng, để duy trì an toàn cho đại bản doanh.
Quan Vũ là người tín ngưỡng, trong những tướng lĩnh nổi tiếng thời Tam Quốc, nổi tiếng bậc nhất, vẫn là cánh tay quan trọng của Lưu Bị. Ông có sức hút rất lớn, được mọi người xung quanh sùng bái, bởi thế có thể lãnh đạo rất tốt. Chỉ phải nỗi ông ta cậy tài ngạo mạn, một mình một đường, khiến các tướng lĩnh trong quân đối với ông thì sợ hãi hơn là tôn kính - lấy một tướng lĩnh như vậy để phụ trách nhiệm vụ quân sự đơn thuần, tự nhiên là có thừa rộng rãi, song để phụ trách phòng thủ Kinh Châu vốn nóng bỏng về chính trị, thực ra chẳng phải là thích hợp.
Vậy sao Lưu Bị và Gia Cát Lượng vẫn lựa chọn Quan Vũ trấn thủ Kinh Châu nhỉ? Nguyên nhân chủ yếu nhất là trong tập đoàn Lưu Bị nhân tài thiếu ở mức nghiêm trọng, thực khó kiếm được một viên tướng có khả năng độc lập.
Trương Phi cá tính nóng nẩy, giỏi tấn công mà không giỏi phòng thủ. Triệu Vân là một tướng tài thích hợp, song ông ta đang hợp tác tốt với Gia Cát Lượng, rất ăn ý, Gia Cát Lượng vào Thục chẳng thể thiếu ông ta, bởi thế chẳng thể để lại giữ Kinh Châu.
Quan Vũ dũng mãnh mà rắn rỏi, rất có danh tiếng trước thiên hạ, dùng ông ta để đối phó Tào Nhân, có khí thế hơn cả Trương Phi, Triệu Vân.
Lịch sử có ghi chép Quan Vũ bị nhọt tên, ở cánh tay trái, sau này tuy lành, song mỗi khi trở trời mưa gió, vẫn nhức nhối trong cánh tay, ảnh hưởng đến thao tác võ nghệ, thầy thuốc chẩn đoán rằng: “Mũi tên có độc, độc ngấm vào xương cốt chỉ có khoét chỗ thịt ở cánh tay đến tận xương, dùng dao nạo chất độc bám vào xương cốt mới có thể điều trị triệt để chứng nhức xương”.
Quan Vũ nghe rồi lập tức duỗi cánh tay, để Hoa Đà làm trị liệu, lúc ấy Quan Vũ đang cùng chư tướng uống rượu, ông ta cũng không hạ lệnh dừng lại, một mặt vẫn yến tiệc như cũ, làm phẫu thuật ở cánh tay máu chảy như rót, cơ hồ đầy cả chậu, song Quan Vũ vừa ăn, uống vừa cười nói như không, mặt không đổi sắc, thực là người dũng cảm chịu đau hơn người, khiến các tướng lĩnh ở đấy khâm phục không thôi.
Chu Du đã gọi Quan Vũ là viên tướng hổ báo, Lục Tốn cũng phải tán tụng là hùng kiệt ở đời, đến như tham mưu của Tào Tháo là Trình Dục cũng khen Quan Vũ là “vạn người khó địch nổi”. Khá thấy Quan Vũ bấy giờ rất được nể trọng.
Lại nữa, Quan Vũ với Lưu Bị một lòng trung thành sáng láng, cổ kim khó thấy. Trong lúc hoàn ảnh rất khó khăn, ông vào sinh ra tử, chẳng hề oán thán. Năm xưa Tào Tháo đưa ra những điều kiện rất tốt đẹp, muốn giữ Quan Vũ cũng chẳng thể được. Quan Vũ đã rõ ràng là một người trung thành với lập trường chính trị, lại cũng là một viên đại tướng ngoan cố và cũng đáng kính.
4. Chiến lược ở Kinh Châu, quái thai đã chứa sẵn.
Sau trận Xích Bích không lâu, Tôn Quyền theo đề nghị của Chu Du, Lỗ Túc, Cam Ninh, có kế hoạch tiến quân vào Ích Châu, đoạt lấy chính quyền Lưu Chương đang không ổn định, lấy Trường Giang làm ranh giới, cùng với Tào Tháo chia đôi thiên hạ.
Ông ta lấy chiến lược ấy trao đổi với Lưu Bị cùng phe đồng minh, chẳng ngờ Lưu Bị có phản ứng lớn, lấy cớ Lưu Chương cùng với mình đều là tôn tộc nhà Hán chẳng thể làm trái, thậm chí còn biểu lộ sẽ bảo hộ cho Lưu Chương, không ngại sẽ trở mặt với Tôn Quyền. Đương khi Tôn Quyền phái Tôn Du đến Hạ Khẩu sắp xếp quân tây chinh, Lưu Bị cũng lập tức lệnh cho Quan Vũ mang binh lực phía bắc đến Giang Lăng, Trương Phi đến đóng ở Tỷ Qui, Gia Cát Lượng đóng quân ở Nam Quận, còn tự mình dẫn quân đến đóng ở Sàn Lăng, bầy ra một hình thái đối đầu triệt để, Tôn Quyền được Lỗ Túc khuyên can, để bảo toàn đại cục, bất đắc dĩ phải lệnh cho Tôn Du hủy bỏ việc tây chinh.
Song không lâu Lưu Bị lại tự mình tây tiến vào Ích Châu đoạt lấy chính quyền của Lưu Chương.
Tôn Quyền thấy thế tự nhiên rất phẫn nộ, thậm chí nhân cơ hội triệu hồi em gái là Tôn phu nhân đã gả cho Lưu Bị, nếu như Triệu Vân không liều mình ngăn sông để cản Tôn phu nhân mang ấu chúa đi, có thể A Đẩu của Lưu Bị đã phải làm con tin ở Đông Ngô. Quan hệ Tôn - Lưu sau sự kiện này bị rơi vào tình thế căng thẳng cao độ.
Lỗ Túc lại làm khó Lưu Bị, yêu cầu trả lại Kinh Châu vẫn đang mượn để ở. Thực ra Đông Ngô chỉ cho Lưu Bị mượn Nam Quận mà thôi, song yêu cầu lần này của Lỗ Túc, lại bao gồm cả ba quận Linh Lăng, Quế Dương, Trường Sa. Bởi đánh thắng trận Xích Bích chính là Đông Ngô, lãnh địa mà Lưu Bị nhân cơ hội giành được, cũng chỉ là Đông Ngô mặc nhiên tạm cho mượn mà thôi, đã có lợi mà không phải trả tiền trông nom, chiến lược cho mượn Kinh Châu của Lỗ Túc thực ra rất có lợi. Song Lưu Bị lại không biện bạch cho việc mình chiếm Kinh Châu trước đây, chỉ trả lời vu vơ là đợi đến khi chiếm được Lương Châu, tự nhiên sẽ đem toàn bộ Kinh Châu trả cho Tôn Quyền.
Tôn Quyền cũng không dễ mắc lừa, ông ta phái Lã Mông lấy võ lực đánh chiếm ba quận là Linh Lăng, Quê Dương, Trường Sa. Quan Vũ lo phòng thủ phía bắc không dám tùy ý chi viện, chỉ phái sứ giả báo cáo với Lưu Bị ở Ích Châu. Lưu Bị lập tức dẫn viện binh đến đóng ở Công An, lại lệnh cho Quan Vũ nhanh chóng thu lại ba quận Kinh Nam.
Tôn Quyền cũng lệnh cho Lã Mông, một viên tướng thuộc phái Diều Hâu, chuẩn bị dốc toàn lực đối đầu với Lưu Bị, lại lệnh cho Lỗ Túc tiến hành đối trận với Quan Vũ.
5. Một đao phó hội, níu giữ hoà bình.
Lỗ Túc lấy đại cục làm trọng, cự tuyệt mệnh lệnh của Tôn Quyền, trái lại cùng với Quan Vũ tiến hành hoà đàm “một đao phó hội”. Một đao phó hội chẳng phải là chuyện Quan Vũ múa đại đao trong Tam quốc diễn nghĩa, mà là một nơi phi vũ trang hoặc có thể gọi là cuộc đàm phán trước trận được vũ trang nhẹ.
Theo đề nghị của Lỗ Túc, quân sĩ hai bên bầy binh bố trận ở ngoài năm trước, để tránh xung đột, các tướng lĩnh tham dự hội đàm, mỗi người chỉ mang theo một cây đao, chẳng có vệ sĩ đi kèm, sử sách gọi đó là một đao phó hội. Tam quốc chí có chép:
Trong hội nghị, Lỗ Túc hỏi thẳng Quan Vũ, vì sao không mang trả ba quận Kinh Châu.
Quan Vũ giải thích rằng, trận Ô Lâm (trên bờ Xích Bích) tả tướng quân Lưu Bị tự mình xông pha chiến trận, tận lực đánh bại kẻ địch, sao có thể vất vả mà không có công, mà không có được một dải đất, chẳng nhẽ một chút đấy này các ông cũng muốn đoạt về ư?
Lỗ Túc nghiêm sắc mặt đáp rằng: “Chẳng thể nói như thế, năm xưa Lưu Dự Châu ở trận Đương Dương Trường Bản, chỉ còn một đội quân nhỏ, thế cùng lực kiệt, chuẩn bị phải chạy đến phương xa. Chúa công tôi thương ông ta, mới tìm đất để ông ta được yên và cùng đối phó với Tào Tháo. Sau này lại cho ông ta mượn ba quận bên sông, cũng là sự ước định rất chí công vô tư. Nay các ông đã đoạt được Ích Châu, cứ theo ước định mà trả lại toàn bộ Kinh Châu mới phải, mà Lưu Dự Châu bởi tham lam quá trớn, muốn lấy vùng đất mượn của chúng tôi. Tin rằng đến cả bọn phàm phu tục tử cũng không làm như vậy huống chi là một lãnh chúa châu quận nhỉ?”.
Quan Vũ bấy giờ nghĩ lại, chẳng biết nói gì.
Từ đoạn đối thoại này, chúng ta có thể thấy về dư luận thiên hạ bấy giờ tựa hồ không thừa nhận hành vi đánh lén ba quận Kinh Nam, mà đánh thắng trận Xích Bích chính ra là Đông Ngô, nói về lý lẽ thì Kinh Châu phải thuộc về Tôn Quyền.
Song Kinh Châu lại có địa vị chiến lược rất quan trọng. Lưu Bị sau này muốn bắc phạt Trung Nguyên, thì Kinh Châu không bị nghi ngờ gì là bàn đạp rất tốt, cho nên nói gì thì nói cũng không thể trả cho Tôn Quyền, nói rằng đoạt được Lương Châu chỉ là nói quanh mà thôi.
Bởi ba quận Kinh Nam đã bị Đông Ngô tiến đánh, đúng lúc ấy lại lan truyền Tào Tháo tự dẫn đại quân, tham dự chiến dịch Hán Trung, Lưu Bị sợ Ích Châu mới chiếm được bị áp lực lớn bởi muốn tăng cường phòng thủ nội bộ, tránh phân tán binh lực, bèn chủ động phái sứ giả cầu hoà với Tôn Quyền.
Tôn Quyền trước ý chí chủ hoà mãnh liệt của Lỗ Túc, lấy đại cục làm trọng, lệnh cho Gia Cát Cẩn là anh trai của Gia Cát Lượng phụ trách việc hoà đàm, ký lại hiệp ước.
Hai bên đồng ý cùng chia Kinh Châu, lấy sông Tương Thủy làm ranh giới, các quận Trường Sa, Giang Hạ, Quế Dương phụ thuộc Tôn Quyền. Nam Quận (cả Giang Lăng), Linh Lăng, Vũ Lăng thuộc về Lưu Bị, miễn cưỡng duy trì quan hệ hoà bình giữa hai bên.
Song Quan Vũ là viên đại tướng không giỏi xử lý vấn đề chính trị, ông ta đối với sự khổ tâm của Gia Cát Lượng để liên hợp Đông Ngô và giữ yên Kinh Châu, lại hoàn toàn không hiểu nổi. Ông ta ngạo mạn khinh địch, cố chấp lại tự cao tự đại, thường va chạm với Lỗ Túc về chuyện biên giới, gây ra phiền phức. Hơn nữa đương khi Tôn Quyền phái sứ giả đến cầu hôn xin con gái ông ta cho con trai của mình, Quan Vũ chẳng những không hứa hôn, mà ngay lúc ấy lại mắng nhiếc sứ giả của Tôn Quyền, khiến quan hệ hai bên đã căng thẳng lại càng xấu đi. Tuy Tôn Quyền xuất chiêu lần này có ý cầm bắt con tin, song ít ra cũng muốn tăng cường quan hệ hữu hảo. Ví như không đáp ứng, cũng nên nói lại với Lưu Bị, sau đó sẽ phái sứ giả mà khéo léo cự tuyệt. Quan Vũ phản ứng quá độ như thế, chẳng những khiến tình thế Kinh Châu càng xấu đi, cũng làm cho không khí chiến tranh càng tăng thêm, thực ra còn chưa biết thế nào. Trái lại, Lỗ Túc vẫn lấy dại cục đồng minh làm trọng, thường có thái độ vui vẻ. Bởi thế suốt thời gian Lỗ Túc còn sống, vẫn chưa từng phát sinh vấn đê gì nghiêm trọng.
6. Diều hâu chọi lại Diều hâu, quan hệ Tôn -Lưu căng thẳng.
Tháng 10 năm Kiến An thứ 22, cây cột trụ quan trọng nhất để duy trì quan hệ hợp tác Tôn - Lưu là Đô đốc Lỗ Túc qua đời, Tôn Quyền phái Lã Mông một viên tướng Diều Hâu nổi tiếng lên thay thế. Tình thế đông cứng của Tôn - Lưu ở Kinh Châu càng mau chóng xấu đi.
Thực ra, bất luận là Gia Cát Lượng hay Lỗ Túc, đều rất biết rõ chiếm được Kinh Châu, đối với sự phát triển của cả hai bên là quan trọng. Khi đưa ra Long Trung Sách, Gia Cát Lượng đã luôn luôn nhấn mạnh tính quan trọng của Kinh Châu, trong kế hoạch của ông ta, hành động bắc phạt phục hưng nhà Hán, phát động từ Kinh Châu là lý tưởng nhất. Sau khi mất Kinh Châu, Gia Cát Lượng trong cuộc bắc phạt lần thứ nhất, thực ra cũng đã có kế hoạch lôi kéo Mạnh Đạt ở quận Tây Thành phía tây bắc Kinh Châu làm nội ứng, bởi vì từ Kinh Châu trực tiếp đánh vào Lạc Dương là đường thuận lợi nhất. Lỗ Túc cố nhiên là chẳng có tâm nguyện phục hưng nhà Hán, song cũng có hùng tâm giúp đỡ Tôn Quyền tranh bá thiên hạ, nếu như có thể hoàn toàn nắm vững Kinh Châu, chẳng khác lấy Trường Giang làm ranh giới với Tào Tháo chia đôi thiên hạ, tiến thoái đều thích hợp, bởi thế Kinh Châu trong quy hoạch chiến lược của ông ta là vô cùng quan trọng. Tôn Quyền lấy Lỗ Túc làm người kế nhiệm Chu Du, chỉ huy phòng thủ chiến tuyến phía tây, cũng bởi ông ta hiểu biết rất rõ về tầm chiến lược của Kinh Châu.
Song sự uy hiếp của Tào Tháo lại càng trực tiếp, với thực lực của Tôn Quyền và Lưu Bị là rất khó đơn độc đối phó với với Tào Tháo, ví như ở trận Xích Bích hai thế lực cùng liên hợp, ít nhiều cùng có phần may mắn, bởi thế duy trì hợp tác hai bên là vấn đề sinh tồn hiện nay, tự nhiên việc nắm giữ Kinh Châu lại càng quan trọng.
Sau khi Lỗ Túc mất, trên võ đài chiến trường Kinh Châu, còn lại hai vị đều là tướng lĩnh Diều Hâu nổi tiếng của đôi bên, đó là Quan Vũ và Lã Mông.
Hai người này đều là những nhà tác chiến thiên tài, cũng có nhiều mưu lược, chỉ phải nỗi họ tự tin quá độ, có khuynh hướng chủ nghĩa bản vị rõ rệt, xem trọng thành đạt của mình, mà lại không thấy hết tầm quan trong chiến lược mang tính toàn cục của thế trận ba chân vạc lớn.
7. Bắc phạt Tương Dương
Tháng 7 năm Kiến An thứ 24. Lưu Bị tự xưng là Hán Trung Vương, Quan Vũ được phong làm Tiền tướng quân, tích cực chuẩn bị Bắc phạt. Quan Vũ là người tận trung với việc phục hưng nhà Hán, tuy duyên phận năm xưa ông ta có chút quan hệ riêng với Tào Tháo, song Quan Vũ tuyệt đối phân biệt rõ ràng giữa công và tư, chỉ cần mới nói đến việc thống nhất “phản công Trung Nguyên”, Quan Vũ sẽ là người hưởng ứng đầu tiên. Khi xưa Tào Tháo với Tôn Quyền đại chiến ở Hợp Phì, Quan Vũ rất muốn dẫn quân lên phía bắc đoạt lấy Tương Dương, nhưng bởi quân Hạ Hầu Uyên vẫn ở Hán Trung, đang uy hiếp sự an toàn của Ích Châu, bởi còn tùy thời chi viện cho Lưu Bị, Quan Vũ không dám khinh xuất phát động chiến sự lên phía bắc.
Đến khi Tào Tháo rút quân về theo đường Tà Cốc, Lưu Bị đã ổn định được Hán Trung, Quan Vũ đành lòng chẳng được. Ông ta chẳng phải là võ dũng vô mưu, xuất binh bắc phạt đã có khảo lự tất yếu. Đông Ngô một lần nữa yêu cầu trả lại Kinh Châu song nếu như Quan Vũ có thể khôi phục lại Tương Dương, bố trí phòng tuyến vững chắc, thì quân Đông Ngô đồng minh không dễ thu hồi Kinh Châu. Hơn nữa nếu như Lưu Bị nắm được quá nửa Kinh Châu, thì ba quận Giang Bắc có thể sẽ về tay, bởi thế phát động chiến dịch Tương Dương đối với Quan Vũ khá quan trọng.
Theo kế hoạch của Long Trung Sách, khi phương bắc có biến, Kinh Châu mới có thể nhân đó huy động quân lên phía bắc. Song khi ấy Tào Tháo mới từ Trường An rút về Lạc Dương, chuẩn bị trở về Nghiệp Quận. Tuy chiến dịch Hán Trung bị thất bại, song lực lượng quân Tào khá tập trung, sức phòng thủ ở chiến tuyến phía nam có thể nói là không có vấn đề. Huống chi Tào Nhân đang trấn thủ ở Tương Dương, tình huống khá ổn định tựa hồ không có điều kiện để phát sinh cuộc Bắc phạt mà Long Trung Sách nói đến.
Tuy nói rằng tướng ở ngoài biên, quân lệnh có chỗ không theo, song nếu như mức độ chiến lược quan trọng, phải động dụng rất nhiều binh lực, tài lực, nếu chẳng được Lưu Bị phê chuẩn, thì Quan Vũ sẽ không dám phát động cuộc chiến tranh có quy mô lớn như vậy.
Có thể bởi Lỗ Túc vừa mất, Lưu Bị, Gia Cát Lượng, Quan Vũ phán đoán rằng quân Đông Ngô đang lo việc đề phòng, mà không có động tác gì. Đằng sau bộ mặt vui vẻ của Lã Mông, lại làm cho Quan Vũ mất cảnh giác, phải chăng đều là tâm lý chính vậy.
Nói tóm lại Quan Vũ phát động cuộc chiến lần này có thể thấy khá khẩn trương, ông ta hạ lệnh cho Thái thú Nam Quận là My Phương đến đóng quân ở Giang Lăng, giữ gìn kho tàng quan trọng ở hậu phương, lại phái Sỹ Nhân trấn thủ ở Công An, phòng ngừa Đông Ngô có manh động gì, Quan Vũ tự mình dẫn quân chủ lực Kinh Châu, lấy khôi phục nhà Hán làm ngọn cờ chính trị, tiến đánh đội quân của Tào Nhân, kể từ trận Xích Bích đến nay vẫn đóng đồn ở Tương Dương và Phàn Thành.
8. Tương Dương nằm ở giữa Kinh Dự, yết hầu nam bắc quan trọng.
Tương Dương nằm ở vùng giáp ranh giữa quận Nam Dương và Nam Quận, từ đời Tần đến giờ vẫn lấy sông Hán Thủy làm ranh giới, phía bắc là quận Nam Dương, phía nam là Nam Quận. Thành Tương Dương nằm ở phía nam Hán Thủy, lệ thuộc Nam Quận, song đối diện với Phàn Thành thuộc Nam Quận bên kia sông. Hiện nay hợp nhất lại thành Trương Phàn thuộc tỉnh Hồ Bắc.
Nhiệm sở cũ của Kinh Châu ở Hán Thọ, quận Vũ Lang, khi Lưu Biểu làm Thứ sử Kinh Châu, đối với nam Kinh Châu không đủ sức khống chế, bởi thế phải chuyển nhiệm sở về Tương Dương ở phía bắc. Lại thêm tự mình là quân sĩ không đầu hàng của triều đình, ở gần với khu Tư Lệ, nếu có biến cố chạy xuống phía nam có thể dựa vào sông Trường Giang cố thủ, Hán Thủy lại chạy qua Tương Dương mà xuống Trương Giang, vị trí Tương Dương về đường thủy và đường bộ đều rất quan trọng. Lấy vị trí địa lý mà nói Tương Dương cố nhiên là đất trọng yếu song bởi ở bình nguyên bờ nam Hán Thủy, cơ hồ hoàn toàn không phải là đất hiểm trở dễ phòng thủ, cho nên về quân sự có tác dụng phụ trợ cho Phàn Thành ở bờ bắc.
Nhận được tin do thám đại quân của Quan Vũ tiến lên phía bắc, Tào Nhân lập tức hạ lệnh, cho toàn quân vượt sông sang đóng đồn ở Phàn Thành, chỉ lưu lại tướng quân Lã Thường, để duy trì trị an nội thành về danh nghĩa, điều một số ít quân cảnh vệ phong toả giao thông với bên ngoài, khiến Tương Dương trở thành nơi không giao tranh, thu hút Quan Vũ về phía Phàn Thành. Quả nhiên, Quan Vũ chỉ phái một đội quân đặc biệt bao vây Tương Dương, tự mình dẫn quân chủ lực vượt sông tiến đánh Phàn Thành. Chỉ cần Phàn Thành thất thủ, Tương Dương tự nhiên sẽ rơi vào trong tay, lúc ây Quan Vũ sẽ khống chế được vùng đất then chốt của ba thế lực lớn là Tào Tháo, Lưu Bị và Tôn Quyền. Có thể đấy là mục đích chủ yếu của việc Quan Vũ mạo hiểm tiến lên phía bắc, phát động chiến dịch Tương Phàn.
9. Nước ngập cả Phàn Thành, Tào Nhân thề tử thủ.
Chiến sự lúc đầu của Quan Vũ rất thuận lợi, chẳng những bao vây chặt quân phòng thủ của Tào Nhân, khiến cho viên đại tướng hàng đầu của Tào Tháo bó tay thúc thủ. Tào Tháo không dám xem thưòng, phái một viên tướng tài trí là Vu Cấm dẫn bảy đội quân lớn chi viện, lại cử mãnh tưóng Tây Lương là Bàng Đức làm tiên phong.
Quan Vũ lợi dụng mùa mưa trung tuần tháng 7, phá đê ven sông, dẫn nước lũ Hán Thủy, làm ngập đại quân của Vu Cấm đang đóng đồn ở ngoài Phàn Thành, bắt sống Vu Cấm, chém chết Bàng Đức. Tào Nhân ở trong thành đành giương mắt nhìn viện binh tan rã chẳng thể giúp đỡ. Thanh thế Quan Vũ chấn động, Tào Tháo đã có ý đưa Hán Hiến đế rời Hứa Đô lánh nạn, bởi tham mưu Tư Mã Ý cực lực phản đối mới thôi. Song để nâng cao tinh thần quân dân tiền tuyến, Tào Tháo tự dẫn đại quân, đến đóng ở Lạc Dương, để quan sát tình hình chiến sự, tùy thời mà chi viện.
Bốn bên Phàn Thành đều bị nước lụt uy hiếp, tường thành thấm nước lâu ngày, dần dần sụt lở, Tào Nhân phải chuẩn bị bỏ thành chạy về Dự Châu. Tham mưu trưởng Mãn Sủng cho rằng, nếu Tương Phàn thất thủ, thì Lạc Dương, Trường An sẽ trực tiếp bị uy hiếp, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của triều đình, nên phải liều chết cố thủ với trách nhiệm vì dân vì nước. Tào Nhân nghe theo đề nghị ấy, dìm con ngựa trắng mà mình rất yêu quý xuống nước, để thề quyết tâm không lùi, ông ta với quân dân nội thành cùng tuyên thệ: “Ta được Tào Công giao trách nhiệm bảo vệ thành này, nên phải đem hết sức lực để gìn giữ đến chết không lùi, ai nói bỏ thành thì chém”.
Toàn thể già trẻ trong thành, gánh đất đá lấp tường thành, sau mười mấy ngày kiên trì phòng giữ, nước lũ dần dần rút đi, tình thế khẩn trương ở Phàn Thành mới tạm lắng xuống. Tào Nhân lập tức hạ lệnh sửa sang lại việc phòng thủ để có thể kháng cự lâu dài. Tào Tháo lại phái đạo quân Từ Hoảng cẩn thận và có năng lực tác chiến độc lập, đến đó chi viện cho Tào Nhân. Từ Hoảng muốn đấu trí hơn là đấu lực, ông ta bố trí quân đội ở ngoài thành đối trận với Quan Vũ, lại bao vây quân Quan Vũ, dùng tâm lý chiến để gây áp lực, quả nhiên quân Quan Vũ chẳng thể thắng nhanh, giảm dần thanh thế.
Tào Tháo lại nghe đề nghị của Tư Mã Ý, quyết định dẫn dụ Tôn Quyền, từ phía sau Kinh Châu mà giáp kích.
10. Lã Mông nói: Kẻ sĩ xa nhau ba ngày, dụi con mắt mà ngóng đợi.
Đô đốc Lã Mông mới nhậm chức là danh tướng giàu mưu lược của Đông Ngô. Trần Thọ trong Tam quốc chí đã khen ông ta có khí chất của kẻ quốc sĩ, Tôn Quyền cũng khen ông ta: thao lược kỳ tài gần như Chu Công Cẩn (Chu Du).
Lã Mông tên chữ là Tử Minh, người Nhữ Nam từ nhỏ đã thông minh ít ai bằng, thích việc nghĩa hiệp, mà ít đọc sách. Bởi trông nom công việc cẩn thận, tận tụy với chức vụ, rất được Tôn Quyền và Chu Du tín nhiệm.
Bởi từ một bước mà được trọng dụng, Tôn Quyền vẫn khuyên Lã Mông phải đọc nhiều sách, mới có thể triệt để nắm được việc quân chính và công việc hành chính địa phương. Lã Mông lấy cớ việc quân nhiều bận rộn, chẳng có lúc nhàn rỗi đọc sách.
Tôn Quyền lại nói: “Ta khuyên ngươi đọc sách, chẳng phải muốn ngươi trở thành tiến sĩ, chỉ muốn ngươi xem nhiều sử sách, học được kinh nghiệm làm việc của tiền nhân, để ứng dụng vào công việc thường ngày. Ngươi nói rằng tạp vụ rất nhiều, ta xem ra cũng không ít hơn ngươi! Ta tuy bận vẫn thường đọc sách để bổ trợ cho mình!”.
Đang lúc Lã Mông bệnh cũ tái phát, xin dưỡng bệnh tại nhà, ông ta làm theo đề nghị của Tôn Quyền đóng cửa ngày đêm đọc sử sách. Không lâu Lỗ Túc đến Thẩm Dương, thăm hỏi Lã Mông, cùng với ông thảo luận việc đại sự quốc gia. Sau lúc nói chuyện không khỏi kinh ngạc mà rằng: “Tướng quân! thao lược hiện nay của ông đã chẳng phải là Lã Mông ngày xưa nữa!”.
Lã Mông chỉ cưòi mà nói: “Kẻ sĩ xa nhau ba ngày, dụi con mắt ngóng đợi, đại huynh sao đến muộn thế?”.
Lỗ Túc với Lã Mông về lập trường tuy thường trái nhau, song Lỗ Túc rất khen ngợi tài cán của Lã Mông, chẳng những thường tiến cử với Tôn Quyền, lại chính thức nhận mẹ Lã Mông làm mẹ mình, với Lã Mông kết làm huynh đệ.
Lã Mông xuất thân nghèo khổ, Lỗ Túc là một quý tộc có danh tiếng, trong quan hệ tình cảm của hai người khá thấy Lỗ Túc rất xem trọng Lã Mông. Song Lã Mông sau khi tiếp nhiệm phần việc Lỗ Túc để lại, lập tức điều chỉnh chiến lược phòng thủ phía tây.
Lã Mông gặp riêng Tôn Quyền nói rằng: “Quan Vũ là người kiêu dũng, rất nhiều dã tâm, sớm muộn ắt có ý thôn tính phía đông Kinh Châu, bởi thế nên sớm ra tay trước, tiến hành bố trí lại”. Ông ta rất tự tin nói rằng: “Chỉ cần Chinh lỗ tướng quân Tôn Kiểu giữ Nam Quận, Phan Chương đóng đồn ở thành Bạch Đế ngăn cản sự uy hiếp của Lưu Bị từ phía tây lại, Lã Mông tôi phụ trách việc sửa sang lại Kinh Châu thì chẳng còn phải sợ sự uy hiếp của Tào Tháo xuống phía nam, sao phải dựa vào quân Quan Vũ ở Giang Lăng nhỉ? Huống Chi, Lưu Bị, Quan Vũ đều là đồ phản phúc vô thường, dứt khoát chẳng thể coi là đồng minh tâm phúc. Dựa vào người khác không bằng dựa vào mình, khuếch trương thực lực của người ta để làm chỗ dựa của mình, một mai thực lực của đối phương vượt quá mình ắt sẽ nguy đến bản thân...”.
Cách nghĩ của Lã Mông là rất thực tiễn, trong một thời gian ngắn có thể tạm ngăn cản được Tào Tháo và Lưu Bị, có thể nắm được nhiều lãnh thổ và quyền lợi. Thực ra, đấy cũng là tâm thế cơ bản của những cán bộ cao cấp ở thời đại cạnh tranh lớn; những tướng lĩnh cao cấp và ban tham mưu của Lưu Bị và Tôn Quyền tuyệt đại đa số đều có cách nhìn bản vị theo chủ nghĩa anh hùng này. Quan Vũ không nghĩ đến toàn cục mà mạo hiểm bắc phạt, chưa chủ động xin ý kiến tham khảo của phía Tôn Quyền, nguyên nhân chính cũng ở đây.
11. Xem thường đại thế, anh hùng lâm nguy
Có quan điểm chiến lược toàn cục, lâu dài để thấy tình thế ba chân đỉnh lớn, có thể nói chỉ có Lỗ Túc, Gia Cát Lượng và Triệu Vân mà thôi, ba người ấy kiên trì quan điểm Tào Ngụy còn tồn tại thì Tôn Quyền và Lỗ Túc chẳng có điều kiện xung đột với nhau; xét nhu cầu rất lớn về nhân lực và tài lực để kháng chiến lâu dài, điều kiện của Tôn Quyền và Lưu Bị đều còn lâu mới bằng Tào Tháo.
Đương nhiên Tào Tháo không phải không có nhược điểm, cai quản một vùng rộng lớn, bởi lợi hại ắt có xung đột, các thế lực gắn với nhau, thực ra đều mang quái thai, không như một đoàn thể nhỏ dễ chỉnh hợp. Người chỉ huy có năng lực (như Tào Tháo) tự nhiên có thể giải quyết được vấn đề, nếu như gặp chuyện, nguy cơ tất nhiên rất lớn.
Trong Long Trung Sách Gia Cát Lượng vẫn chủ trương “Liên Ngô chế Tào” cũng biểu thị nếu phương bắc có chuyện, Kình Châu có thể phái một viên Thượng tướng đánh Tương Dương, Lưu Bị và Tôn Quyền chia làm hai đường tiến công, có thể khôi phục được nhà Hán. Nói rằng phương bắc có chuyện, tức là nói một mai Tào Tháo mất đi, chính quyền Tào Ngụy về lực lượng chung ắt có nguy cơ giảm sút, lúc ấy chính là cơ hội tốt nhất để bắc phạt.
Đáng tiếc là Quan Vũ, Lưu Bị đều thiếu tính nhẫn nại, Tôn Quyền và Lã Mông cũng vội vàng nắm lấy lợi ích quốc gia riêng mình mà ít có tầm nhìn xuyên suốt cục diện thiên hạ. Chỉ cần sau một năm mà thôi, Tào Tháo từ trần trong tháng giêng năm Kiến An thứ 25, nếu như Lỗ Túc sống thêm hai năm, Quan Vũ có thể không vội vàng phát động cuộc bắc phạt, hoặc như Tôn Quyền và Lã Mông có tầm nhìn xa hơn một chút, thì đại thế thiên hạ thắng lợi cuối cùng thuộc về ai, cũng chưa biết sẽ thế nào.
Cuộc tập kích của Lã Mông khiến đại bản doanh của Quan Vũ ở Giang Lăng rơi vào tay Đông Ngô, Quan Vũ không thể không từ chiến trường Tương Phàn vội vàng rút về, giữa đường lại bị Lã Mông phái Phan Chương tập kích đường sông, tạo thành sự đại bại của quân bắc phạt, dẫn đến Quan Vũ thua chạy về Mạch Thành, trong quá trình đột phá vòng vây thất bại mà bị giết, đấy là sự tích chủ quan để mất Kinh Châu, trong sử liệu có ghi chép rõ ràng, ở đây không kể lại. Quan Vũ lâm nạn lúc 58 tuổi.
Rất thú vị là Lã Mông cũng tạ thế không lâu sau chiến dịch này, Tôn Quyền mang thủ cấp của Quan Vũ dâng cho Tào Tháo, Tào Tháo cho người bổ sung thân thể với quần áo mũ mão đầy đủ, lại lấy lễ táng chư hầu ban cho. (Quan Vũ từng được Tào Tháo tiến cử với Hán hiến đế được phong là Hán Thọ đình hầu). Tôn Quyền nghe tin, cũng lấy lễ nghi trọng thể mà mai táng thi hài Quan Vũ, có thể lúc ấy đã là cuối năm Kiến An thứ 24. Khéo thay Tào Tháo vào đầu tháng giêng năm Kiến An thứ 25, bởi bệnh cũ tái phát mà qua đời. Tác giả “Tam quốc diễn nghĩa” La Quán Trung, bằng vào trí tưởng tượng, viết ra câu chuyện Quan Vũ hiển linh đòi hồn Lã Mông, nạt chết Tào Tháo. Thực ra nếu như Quan Vũ thực có hiển linh ắt phải báo thù Tôn Quyền mới đúng mà không phải Tào Tháo. Tam quốc diễn nghĩa không biết dựa vào đâu, vói Phan Chương đã tập kích Quan Vũ năm nào, cũng miêu tả ông ta bị chết trận trong chiến dịch đông chinh báo thù của Lưu Bị. Thực ra theo sử liệu, Phan Chương chẳng những không chết ở chiến trường, lại bởi có quân công mà được thăng tiến và trọng dụng, khá thấy sự miêu tả của Tam quốc diễn nghĩa, có rất nhiều đoạn theo cách nghĩ chủ quan. Đề cập về cái chết của Lã Mông ra sao, tin rằng là vấn đề mọi người rất hứng thú.
Lã Mông vốn sức khoẻ không tốt, ông thấy rõ được trách nhiệm, làm việc rất vất vả, lại thêm thích uống rượu nên bệnh tỳ vị khá nghiêm trọng. Kể từ cuộc tập kích Giang Lăng, công việc rất căng thẳng bề bộn hay tư lự, bởi thế cuối tháng 11, bệnh cũ tái phát, thổ huyết không thôi, có thể là vỡ dạ dày hoặc dạ dày chảy máu.
Tôn Quyền đón ông ta về hành cung ở Công An, phái ngự y săn sóc cẩn thận, song bệnh tình của Lã Mông ngày một xấu đi. Tôn Quyền không dám làm phiền ông ta, bèn cho khoét một lỗ hổng trên tường để quan sát bệnh tình của Lã Mông. Mỗi lần thấy Lã Mông chuyển biến tốt có thể ăn được một chút, Tôn Quyền suốt ngày rất cao hứng, nếu như thấy bệnh xấu đi thì suốt ngày âu lo, đêm không ngủ được.
Không lâu Lã Mông đã có hiện tượng hồi quan phản chiếu, tự biết số mệnh chỉ còn sớm tối, bèn yêu cầu Tôn Quyền mở yến mừng công, để được tiếp xúc với các tướng sĩ có công. Ông ta tự mình miễn cưỡng ôm bệnh tham gia, giữa tiệc lại yêu cầu Tôn Quyền đại xá cho hàng tướng và tù binh để củng cố thành tích sau chiến thắng. Tôn Quyền bùi ngùi mà ưng thuận, lại trịnh trọng tuyên bố Lã Mông có công lao bậc nhất, quần thần đều chúc mừng Lã Mông, Lã Mông miễn cưỡng đứng lên đáp tạ, bỗng chết ngay giữa tiệc, hoàn thành được di nguyện sau cùng. Lúc ấy ông ta mới 42 tuổi.
Tôn Quyền vô cùng đau xót, lệnh cử hành lễ mai táng long trọng, hậu đãi gia tộc của Lã Mông.
Lã Mông chất phác suốt đời, có thể nói là khắc kỷ vì công việc, trước lúc lâm chung, lấy toàn bộ những thứ được ban thưởng hiến cho triều đình, lại còn dặn dò việc tang nên tiết kiệm. Tôn Quyền nghe những lời nói cuối cùng của Lã Mông lại càng thương cảm muôn phần đau xót khôn nguôi.
12. Sơ xuất để mất Kinh Châu, lực sĩ khó ngăn sóng cả
Sự kiện Kinh Châu với cái chết của mấy nhân vật chính, đã chấm dứt một giai đoạn. Song người chết đã vậy, lại để cho người còn sống chồng chất những vấn đề lớn.
Xem xét sự kiện ấy, kiểm điểm đến cùng, là ảnh hưởng của nó với cục diện ba chân đỉnh sau này, trong đó bị tác hại rất lớn chính là chính quyền Thục Hán mà Lưu Bị và Gia Cát Lượng đã khổ công sáng lập.
Trong kế sách ba chân đỉnh của “Long Trung Sách”, Kinh Châu chính là điều kiện cần có rất quan trọng, chiến sự bắc phạt Trung Nguyên sau này, quân sĩ chủ lực dựa vào đấy mà xuất phát, chiếm được Tương Phàn sẽ có thể trực tiếp uy hiếp khu Tư Lệ và Dự Châu, tiến tới tranh thủ được sự giúp đỡ của các công khanh nhà Hán để đối lập với Tào Tháo, uy hiếp thiên tử, sai khiến chư hầu, chuyển thế yếu thành thế mạnh. Một mai khu Tư Lệ và Dự Châu có biến, các vùng Ký, U, Tinh, Ung và Lương Châu mà Tào Tháo mới chiếm được sẽ cùng phát sinh dao động, khiến đại bản doanh Cổ Châu và Tào Tháo rơi vào cô lập, muốn đánh bại chính quyền Tào Ngụy, Kinh Châu đích xác là chìa khoá rất quan trọng.
Sau khi mất Kinh Châu bàn đạp trực tiếp đánh Tương Phàn chẳng còn, sau này Gia Cát Lượng tuy có ý tác động Mạnh Đạt ở quận Tân Thành phía bắc Kinh Châu làm phản, song vẫn bị Tư Mã Ý ngăn cản nên không thành công. Từ đấy Gia Cát Lượng chẳng thể tiếp tục đánh Tương Phàn. Con đưòng bắc phạt gần nhất là vượt dải Tần Lĩnh tiến đánh Trường An, con đường này gập ghềnh khó đi, lại có nhiều khó khăn, rất dễ bị quân Tào nắm được, hướng vận động khá là nguy hiểm. Khởi đầu chiến dịch bắc phạt, mãnh tướng Ngụy Diên từng đề nghị từ đường Tý Ngọ đánh trực tiếp vào Trường An, Gia Cát Lượng không tán thành, bởi ở con đường ấy quân Tào phòng thủ rất dễ, quân viễn chinh thì gặp phải rất nhiều nguy hiểm, đối với quân Thục Hán ở thế yếu là bất lợi.
Sau này Gia Cát Lượng không thể không lựa chọn phương thức an toàn, đường vòng quanh Lương Châu là con đường chủ yếu để bắc phạt. Thời gian kéo dài, hiệu quả lại ít, đấy là di chứng nghiêm trọng. Thời gian sau này, do việc mất Kinh Châu gây ra ảnh hưởng lại càng lớn là bởi một Kinh Châu, Quan Vũ bị hại, Lưu Bị cơ hồ phải mang hết quân tinh nhuệ vào Thục, sau này đông chinh hỏi tội Tôn Quyền lại bị Lục Tốn dùng hoả công đánh bại ở trận Hồ Đình. Nhân lực tài lực của quân Thục Hán tổn thất rất lớn. Chiến bại lần này, khiến Gia Cát Lượng bắc phạt sau này khó khăn về nhân lực và lương thực bội phần, cuối cùng bạo lực thành bệnh bỏ mình ở gò Ngũ Trượng (Kỳ Sơn giữa trận từ trần, khách anh hùng để tần ngần lệ rơi). Quan Vũ chủ quan để mất Kinh Châu, cũng là nguyên nhân chủ yếu làm cho Gia Cát Lượng không có cách nào đột phá được thế đông cứng ba chân đỉnh lớn.
Sau chiến dịch Kinh Châu, Ngô - Thục tuy hoà đàm, xây dựng lại liên minh, song sự khác biệt tâm lý cũng rất lớn, căn bản chẳng thể giống sự hợp tác trước đây.
Lục Tốn là Tư lệnh chiến tuyến phía tây của Đông Ngô, vốn dĩ xuất thân từ văn quan, ông ta tuy không giống Lã Mông giàu mưu đồ, song cũng không giống như Lỗ Túc chỉ lo giữ đại cục. Trong lúc ông ta đương chức, quan hệ Ngô Thục chưa xung đột quá, song nếu muốn cùng phối hợp hành động thì khá lãnh đạm.
Song Đông Ngô chưa từng làm được như Lã Mông nói, có thể độc lập chi phối bắc Kinh Châu, Lục Tốn tuy phát động chiến tranh lên phía bắc, song quy mô không lớn, Tương Phàn trước lúc nhà Tấn thống nhất Trung Quốc, vẫn nằm trong sự cai quản của chính quyền phương bắc.
Tào Tháo sau trận Tương Phàn, lại cho lập ra quận Tương Dương, đến sau khi Tào Phi lên ngôi vua, lại lập thêm các quận Nam Hương, Nghĩa Dương và Ngụy Hưng. Đến thời Tào Tuấn là con Tào Phi, lại lập thêm hai quận Tân Thành, Thượng Dong ở phía tây bắc. Trong thời gian ngắn, từ hai quận Kinh Bắc biến thành tám quận, khá thấy chính quyền Tào Ngụy đối với việc phòng thủ Kinh Bắc rất xem trọng và để tâm. Phần phía nam của Nam Quận, do chính quyền Đồng Ngô cai quản cũng bắt chước lập ra mười tám quận, riêng quận Giang Hạ cũ bị chia làm hai nửa, phần bắc thuộc Tào Tháo phần nam thuộc Tôn Quyền. Việc tăng cường quản lý hành chính, cho thấy rõ chính quyền Đông Ngô đôi với vùng đất này không dám khinh xuất bao giờ, tầm quan trọng về quân sự chính trị của Kinh Châu qua đấy khá thấy.
 
Lời bình của Trần Văn
Tam lược là một trong bảy cuốn Binh kinh của Trung Quốc, tương truyền là cuốn “Thái công bí truyềndo Hoàng Thạch Công tặng cho Trương Lương, để ông ta trở thành người thầy của bậc đế vương, bởi thế theo truyền thuyết được công nhận là một kiệt tác binh pháp rất thần bí.
Song Tam lược còn lưu truyền đến nay, khảo cứu cho thấy là tác phẩm mới viết trước đời Tống, tuy vậy vẫn rất có giá trị, tác phẩm ấy là một sáng tác đại biểu cho trí tuệ tập thể, trong đó có không ít những bí truyền thực sự của Thái Công. Là sáng tác tập thể trải qua 2000 năm, tự nhiên hàm chứa rất nhiều trí tuệ truyền thống văn hoá Trung Quốc. Đạo Sư Cát Điền Tùng Âm đời Mạc Phủ của Nhật Bản cho rằng Tam lược so với Tôn Tử binh pháp lại có hương vị Trung Quốc hơn.
Mở đầu Tam lược có nói, nhu có thể thắng cương, nhược có thể thắng cường, đấy là danh ngôn trí tuệ nghìn xa.
Bởi nhu là đức tính bao dung, cương thì làm hại người ta nên mọi người đều không thích. Kẻ nhược tiểu được mọi người có ý muốn giúp đỡ, kẻ cường bạo tuy làm cho người ta sợ hãi, song cũng là đối tượng để mọi người trừ bỏ cho nhanh.
Rõ ràng nhu có thể có nguyên tắc, cương mà có thể thi hành, nhược lại có ưu điểm để vận dụng, cường lại có thể không ngừng lớn mạnh. Bốn điểm ấy hỗ trợ lẫn nhau, vận dụng đầy đủ mới có thể phát huy được sức mạnh lớn nhất. Hành động biến hoá phù hợp, khiến người ta không dễ nắm bắt, giống như sự biến hoá của đại tự nhiên, trong biến có thường, trong thường có biến, lấy trí tuệ siêu việt của nhân loại mà suy diễn biến hoá của mọi vật. Kẻ dùng binh nắm chắc những biến hoá ấy mới có thể không câu nệ ở tâm thế hình thức mà ứng phó được với những hoàn cảnh thích ứng.
Không giữ lập trường cứng nhắc, có đối sách thích đáng với thái độ của đối phương, không cố định chiến thuật, mà có thể biến hoá ra vô hạn. Người có tấm lòng, có kiến thức như thế, mới có thể tranh bá thiên hạ yên định tám hướng, khiến bốn biển bình lặng, giữ được hoà bình thế giới, người có mưu lược như thế có thể làm người thầy của bậc đế vương.
Cho nên, khó khăn là ở dục vọng của người ta, người ta thường vẫn theo đuổi sự lớn mạnh của mình mà rất ít có thể kiên trì đến cùng trong lúc suy nhược.. Kiên trì lúc suy nhược là bí quyết gìn giữ sự sống, đấy cũng là trí tuệ rất quan trọng của thánh nhân, trước sau nắm chắc được biến hoá của sự vật, tự nhiên sẽ có hành động thích hợp nhất.
Người nắm được bí quyết ấy khi đắc chí thì thi thố với thiên hạ, khi không được như ý thì ẩn dấu tung tích của mình, để đối phương chẳng thể làm hại, chẳng cần có sự bảo vệ của thành lũy hữu hình. Tất cả mọi cơ mưu đều dấu ở trong lòng, trước mắt chỉ là kẻ yếu thế, cuối cùng có một ngày vẫn có thể đánh được kẻ cường bạo.
Bởi thế vừa nhu lại vừa cương, thì uy danh của quốc gia ngày mỗi lớn, vừa nhược lại vừa cường, thế lực quốc gia nqày mỗi mạnh; nếu thuần nhu thuần nhược thì quốc lực ắt sẽ suy bại; nếu thuần cương thuần cương, thì quốc gia ắt bị diệt vong, Quan Vũ muốn cấp tốc bành trướng thế lực, thực ra đấy là tín hiệu rất nguy hiểm đối với ông ta, với vùng đất then chốt nóng bỏng, hai phía bắc và đông đều có cường địch dòm ngó, càng không nên dùng đến tấn công chủ động, khuếch đại chiến tuyến của minh, cũng tăng thêm nguy cơ của mình. Việc mất Kinh Châu, thực ra chẳng phải do chủ quan, mà là sự thất sách trong việc vận dụng chiến thuật. Lưu Bị đã biết rõ cá tính của Quan Vũ, lại chưa từng phạt người thích đáng để phụ tá, với Gia Cát Lượng là người nắm công tác kế hoạch, thực cũng không tránh khỏi khuyết điểm.