Chương 1
TIẾNG HÚ

Ðinh Hợi, Hưng Khánh năm thứ nhất, 1407
Mùa Xuân, tháng 2, ngày 20, Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng bị quân Minh đánh kẹp từ hai bờ sông Lô, lui về giữ  cửa Muộn.  Quân Minh rời về cửa Hàm Tử lập doanh trại.  Trừng cũng rời quân đến Hoàng Giang, đón Thượng Hoàng Quí Ly và Hán Thương Hoàng Ðế từ Thanh Hóa tới.
Tháng 3, ngày 13, Trừng cùng Hồ Ðỗ, Ðỗ Mẫn tiến quân về Hàm Tử, thủy bộ có bảy vạn người nhưng phao lên là hai mươi mốt vạn.  Quân Trừng bị mai phục tan rã, chỉ có thủy binh là thoát được.  Quí Ly và Hán Thương vượt biển về Thanh Hóa.
Ngày 23, quân Minh đánh vào Lỗi Giang ở Thanh Hóa như chỗ không người.
Ngày 29, quân Minh lại đánh vào cửa biển Ðiển Canh.  Ngụy Thức là tướng nhà Hồ, bẩm với Quí Ly và Hán Thương rằng ‘‘ Nước sắp mất, bậc vương giả không chết dưới tay kẻ khác ’’.  Quí Ly sai chém Thức.
Tháng 4, ngày 11, bọn vệ quân nhà Minh chỉ có bảy đứa bắt được Quí Ly ở bãi Chỉ Chỉ. Một bọn khác bắt được Nguyên Trừng ở cửa biển Kỳ La. Hôm sau, lại bắt được Hán Thương và thái tử Nhuế ở núi Cao Vọng, thuộc huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
Người Minh thống kê những thứ thu được: 48 phủ, châu;168 huyện, 3129500 hộ, 112 con voi, 420 ngựa, 35750 trâu bò và 8865 thuyền, không kể đám vua tôi và con cháu nhà Hồ.  Chinh di phó Tướng quân nhà Minh Trương Phụ sai Ðô đốc Liễu Thăng giải tất cả về Yên Kinh với đủ loại ấn tín, gồm Quí Ly, kẻ đã thoán ngôi nhà Trần, với các con là Thương, Trừng, Triết, Uông, các cháu là Nhuế, Lô, Pham, chắt là Ngũ Lang, Quí Tỳ, cháu gọi bằng bác là Cửu, Tuynh, Hoa, Tuấn, Việt, Hoảng... Ðám tướng thần khá đông, có Ðông Sơn hưng hầu Hồ Ðỗ, Hành khiển Nguyễn Ngạn Quang, Lê Cảnh Kỳ, bọn tướng võ  là Bồng, Mông, Tài, bọn quan văn Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Cầu, Nguyễn Mão...
Tháng năm, hạ chí.
Ðoàn người vòng vèo như một con trăn khổng lồ trườn lên triền núi.  Mặt trời như cái đấu lửa đổ dầu sôi lên cây cỏ bỗng lu dần đi từ đầu giờ Dậu.  Gió ở đâu ùa về bừng bực từng chập.  Chim muông nháo nhác kêu, hàng đàn vỗ cánh bay chao trên đầu những ngọn cây nghiêng ngả trong gió.  Tiếng vó ngựa.  Tiếng quát.  Không khí oi nồng đặc quánh lại.  Rồi tiếng sấm.  Sấm động đổ rền vào vách núi, tiếng vọng từng chập âm a dọa nạt.  Ðầu núi, nóc ải Phá Lũy mới đây còn nhìn rõ nay lung linh mơ hồ trong màn hơi bốc lên từ mặt đất.  Lát sau, nóc ải như biến mất. Trên không chằng chịt những chớp xanh lè  mắt mèo. Sét, sét nổ hàng loạt xé rách màn trời đục ngầu.  Lại tiếng quát, tiếng hò hét.  Ðám lính nhà Minh vừa chửi vừa chỉ trỏ.  Con trăn khổng lồ chùn lại uốn khúc lẩn mình vào bìa núi dưới cơn mưa bắt đầu nặng hột.
Mưa quật xuống đất những làn roi trắng xóa.  Dưới tàn lá cây rừng, đám người vội vã treo những tấm lán kết bằng lá gồi và xếp những mảnh liếp chắn nước theo chiều gió tạt vào. Hai người lính dong ngựa từ đầu đến cuối dòng người, tay đánh chiêng, miệng hò.  Lệnh cho cả đoàn người ẩn náu trú đêm tại chỗ.  Lệnh nhắc, kẻ có tên trong sổ đầy đi Kim Lăng nếu có ai trốn thì cả gia tộc sẽ bị xử trảm.  Cả đoàn người im lặng.  Chỉ có tiếng gió dập mưa sa.  Và thỉnh thoảng, tiếng ngựa hí.
Một thiếu niên mình trần lẩm bẩm rồi hạ từ  lưng xuống chiếc gùi đan bằng mây, miệng nói với lại kẻ đồng hành tay đang đỡ một lão niên mảnh dẻ.  Lát sau, dưới tàn lá gồi, lão niên lẳng lặng nhìn về phía chân núi.  Củi nhóm lên, lửa bắt đầu cháy phừng phực.  Hai thiếu niên đổ nước vào chiếc nồi đất thổi cơm. Những mảnh khói sắc tím mượt lượn là theo triền núi trong mưa thổi đi mùi củi thơm lừng một buổi chiều nơi địa đầu giông bão. Lão niên đằng hắng:
- Hay là Bảo đi xuống phía dưới xem anh mày đâu?  Ðể Hùng ở đây là đủ...  Ði đi!
Vâng lời, thiếu niên mình trần khoác lên vai chiếc áo tơi rồi lẳng lặng bước.  Lão niên nhìn theo thở dài.  Hùng cời lửa, rót nước ra bát đất, hai tay đưa cho lão niên.  Cầm lấy bát, lão niên trầm ngâm:
- Có chuyện trò, thì bảo anh con phải về. Việc chăm nom cha có con với Bảo là thừa đủ rồi!  Anh con về cũng là để báo hiếu, nghe không? 
Lẳng lặng gật đầu, thiếu niên mắt rưng rưng cúi xuống bắc nồi cơm, rồi vờ kêu:
- Khói quá, cay cả mắt...
°
Xuống dốc núi, Phi Bảo tay vin cành, chân xoay ngang, lò dò bước trên những hòn đá bám rêu trơn tuồn tuột.  Ðoàn người dẫu là đi đầy vẫn được xếp theo một trật tự xã hội cố định.  Ðám đi đầu là vua, là hậu, là hoàng tử, hoàng tôn.  Sau đến bọn đại thần, cả văn lẫn võ, mỗi kẻ được phép mang theo một số người nhà.  Tất cả, họ thực sự là bại binh của một cuộc chiến chớp nhoáng nên được canh  giữ hẳn hoi.  Lính nhà Minh được lệnh kèm họ sát nách, giáo mác hờm sẵn, sáng lòe, loảng xoảng.  Kế đó, là một đoàn xe kéo.  Ðoàn xe ước cả trăm, chở đủ loại chiến lợi phẩm bắt được ở Tây Ðô, ở Thăng Long...  Dĩ nhiên là có ngọc ngà châu báu.  Lại còn tượng Phật, chuông, khánh. Rồi kinh, sách,  lăng, bia mộ, cột đình, cột chùa trên có khắc chữ. Thượng thư Hoàng Phúc, kẻ giúp Tổng binh  Trương Phụ an dân, đã ra lệnh có thể thì mang về tất cả những dấu vết chữ nghĩa của bọn Nam di, cả chữ Nôm lẫn Hán tự.  Cái gì không mang được, đốt, đốt hết.  Và giấu của thì còn nhân nhượng, chứ kẻ nào giấu sách là mang chém cả nhà. Nghe đồn là ở cửa bắc Thăng Long, có một tay thư sinh  mặt trắng, ngông cuồng kêu trời rồi nhảy vào đống sách phừng phực cháy.  Bọn lính quây lại, và khi anh ta nhảy ra thì chúng lại đạp cho ngã lộn vào đám lửa.  Còn ở chợ Ðồng Xuân, cả một nhà tám người bị chém, đầu cắm cọc, bêu suốt ba ngày.  Nhà này đem giấu gia phả không mang nộp.
Sau đoàn xe chở chiến lợi phẩm là đến bách tính.  Họ thường là những kẻ nổi tiếng có tay nghề độc đáo.  Nào là thợ vàng, thợ bạc.  Nào là thầy lang, sư, sãi.  Rồi ả đào, con hát.  Và rất nhiều thợ rèn.  Loại này nguy hiểm hơn cả, mang đi Yên Kinh thì việc triệt cái khả năng rèn đao, đúc súng ở Giao Chỉ coi là xong.  Vì thế, chỉ đám thợ rèn là bị canh giữ cẩn thận, số còn lại tương đối thoải mái. Thường là họ được mang cả gia đình đi theo, tránh chuyện sau này họ có thể trốn về vì nhớ con thương vợ.
Bảo vừa đi vừa trương mắt nhìn quanh tìm anh.  Mưa vẫn như roi quất vào mặt khiến Bảo cứ chập chập lại vuốt nước giụi mắt.  Sáng nay, Thượng thư Hoàng Phúc ở đâu bất ngờ cưỡi ngựa đến gặp cha con chàng rồi bảo Nguyễn Trãi đi theo. Khi Thăng Long thất thủ cách đây bốn tháng, Phi Khanh đưa đám con ngược lên Mường La nhưng giữa đường bị chặn bắt. Chia làm hai toán, đám đi với Nguyễn Trãi thoát được. Thế cùng, Phi Khanh phải hàng.  Hoàng Phúc gom quyển thi của đám hai mươi  sĩ tử cùng đỗ kỳ thi đầu nhà Hồ cách đây sáu năm rồi bỏ công ra đọc hết. Phúc bảo, trong số đó chỉ có Trãi mới có thực học, thấu hiểu Chu - Trình, trí lực hơn hẳn người đời.  Bắt Phi Khanh thư cho Trãi dụ hàng, Hoàng Phúc giở thái độ bề ngoài mềm mỏng nhưng thực ra vô cùng quyết liệt.  Ðổi lấy mạng cha, Trãi đành về Thăng Long và xin Hoàng Phúc cho mình đi theo cha để báo hiếu. Phúc tính toán, giá mà thuyết phục được Trãi ra hợp tác thì bọn Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn... là những kẻ đồng khoa với Trãi chắc rồi cũng theo.  Ðặt một bộ máy cai trị mới, dùng bọn người này là bọn chưa có dính dáng sâu xa với cả nhà Trần lẫn nhà Hồ thì đúng là thượng sách.  Vì thế, Phúc ầm ừ, lại xui Trương Phụ giả giận đòi đem chém Trãi, rồi chính mình ra can xin như cứu mạng cho Trãi. Hiểu rõ cái chước ấy, Trãi vẫn rập đầu cảm tạ,  chỉ thưa, cha đi đầy mà con lại ra làm quan thì cái mạng mọn này dẫu có cứu nhưng thế là thân bại danh liệt, nói còn ai nghe, thưa Thượng quan.
- Này, nhà anh kia ơi!  Vào giúp cho một tay!
Bảo quay đầu lại.  Dưới chiếc chiếu lá buộc xiêu vẹo ngang đầu, một lũ mấy người đàn bà ngồi co vào nhau, mặt mũi nhợt nhạt vì lạnh.  Bảo lại gần, chân đá vào đám cành cây tươi xếp thành đống dưới một gốc cổ thụ.
- Chúng em châm mãi mà không cháy.  Anh châm giúp cho, trời lạnh quá.
Tiếng cô gái ban nãy lại vang lên, giọng van chịu nghe mủi lòng.
- Các chị có diêm hoàng không?  Bảo hỏi.
- Có.  Chúng em cũng có để nhưng lửa không bắt...
Bảo rút rìu chặt thêm cành, chọn ra những cành còn ráo, vun vào.  Rút ra một sợi giẻ, Bảo nhúng vào lọ dầu làm bấc rồi bật hồng châm lửa.  Lát sau, lửa bén.  Ðến khi lửa đã có ngọn, Bảo lại nghe:
- Ðội ơn anh nhé!  Không có anh thì chúng em chết rét mất.
Quay lại, Bảo bấy giờ mới để ý thấy năm cô con gái, cô lớn nhất thì chạc hai lăm, cô nhỏ nhất chắc chỉ mười ba mười bốn.  Nhìn chân họ cong queo xếp vòng vì nay buộc phải mặc quần theo kiểu người Minh chứ không phải là váy như xưa, Bảo thương hại bảo:
- Các chị ngồi xổm dễ chịu hơn!
Cô gái nhỏ nhất, cũng là người nãy giờ lên tiếng nói với Bảo, nhấc người lên ngồi thử rồi bảo các chị:
- Thật đấy, ngồi xổm đỡ mỏi...
Cô cười hở lợi, hai hàm răng nhuộm đen nhay nháy ánh lửa, nhìn Bảo vẻ biết ơn, miệng ríu rít:
- Chúng em là chị em, ở phường Nghi Xuân, theo nghề ca kỹ.  Họ bắt chúng em đi, bảo là sang bên đó để hát cho Vua họ nghe, có ăn có mặc, không phải lo gì sất!
Cô chị lớn lúc bấy giờ thở dài, hai tay hơ lửa bóp vào nhau, mắt mở trừng trừng nhìn vào quãng không trước mặt. Bỗng cô cất giọng, hát nho nhỏ:
Trèo lên núi dốc
Ngồi gốc cây rừng, (ôi) tôi ngồi gốc ( ơ à ) cây rừng
Ối a, ông trời, ối a...
Rằng tình ( ô anh ) ở lại
Rằng tình ( sao anh ) ở lại
Cho chặt hết cây rừng, (là) em còn vẫn ( ối a ) khóc thầm...
Cả đám cất tiếng hát theo cô chị, giọng thê thiết như tiếng chim trú mưa trong tịch mịch núi rừng.  Cảm thấy nỗi bi phẫn dâng lên, Bảo quay mặt đi, lòng rưng rưng thương cho kẻ đi người ở.  Không dám ở lại lâu, Bảo đứng dậy.  Cô bé nhỏ nhất hoảng hốt ngước nhìn:
- Anh về dưới xuôi cho chúng em đi với.  Mưa bão thế này, trốn chắc dễ...
Bảo đứng sựng lại.  Cô bé đã đứng dậy đi đến cạnh Bảo:
- Cho chúng em đi với, rồi em về hầu hạ cho...
Ánh lửa hắt lên mặt cô bé màu hồng rừng rực, màu của sự liều lĩnh trong tuyệt vọng, liều lĩnh đến nỗi sẵn sàng đốt cháy ngay cả chính đời mình.  Bảo cắn môi, thở dài:
- Không, tôi không về xuôi được.
Cô bé nhìn vào mắt Bảo, nửa thách thức, nửa khinh bỉ.  Bảo cúi đầu.  Một mảnh ván khi người ta bám vào để khỏi chết trôi mà là một mảnh ván mục thì quả thật đáng khinh đáng hận.  Cô bé nhìn các chị, giọng thiểu não:
- Thôi em đi về đây!
Dứt lời, cô chạy băng băng đi.
Trên đường về sau khi tìm thấy Trãi, Bảo đi ngang một khu cây cỏ rậm rì.  Rõ ràng, chàng nghe thấy tiếng cô bé lẫn trong tiếng thở hổn hển và tiếng cười thô bạo.  Hình như cô gào lên thảm thiết:
- Ối giời ơi, buông tao ra...
Bảo nghiến răng rút con dao rừng, tay nắm chặt đốc dao, máu hừng hực dồn lên mặt. Ði được vài bước nhưng đủ thời gian để kịp suy nghĩ, chàng khựng lại, thụp người ngồi xuống vệ cỏ. Trong sự bất lực, Bảo chợt thấy chính mình cũng là kẻ tòng phạm của tội ác. Tiếng kêu trời trong rừng mưa chiều hôm ấy ám ảnh Bảo suốt một đời.
°
Khi mưa dứt hột sau độ ba tuần hương, tiếng lính quát vang ngoài căn lán căng tạm. Lão niên chậm rãi nhìn ra ngoài.  Bảo đi trước, sau là Hoàng Phúc, Nguyễn Trãi và một đám võ sĩ bước theo. Hoàng Phúc mặc triều phục nhà Minh, đầu đội mũ cánh chuồn, thắt đai màu tía dành cho cấp hành khiển. Trên dưới tứ tuần, người thấp bé nhưng tròn trĩnh,  Phúc có cái tật cứ tập trung suy nghỉ là mắt nháy liên hồi, nhưng một khi quyết đoán điều gì thì mắm môi lại. Vốn có tiếng cẩn trọng, Phúc lại mềm mỏng, thường rất tinh nhậy trong cách phân bổ hành chính nên được Vua nhà Minh hết lòng trọng dụng trong việc bình định an dân. Bước vào, Phúc vòng tay, vừa cười vừa nói:
- Kẻ này đường đột đến thăm, mong đại nhân xá cho  - Quay sang Trãi đi cạnh, Phúc đằng hắng -... có công tử đây nên tôi mới mạo muội để tỏ thêm đôi lời...
Ðứng dậy, lão niên vái lại, ngắt lời:
- Tiện nhân là kẻ chiến bại, quan lớn cho sống thì sống, bắt chết thì chết, xin ngài chớ quá lời...
Vái lại, Hoàng Phúc nhẹ nhàng:
- Quân tử ở ngoài vòng thành bại, kẻ này có phải mù đâu mà không biết ai vào với ai.  Hai chữ  Thế Thời lại chẳng ở tay người nên thành bại do Trời, nào do mình.  Dám xin đại nhân cho tôi có dịp đàm đạo dăm ba câu về Thế Thời và hai chữ Xuất Xử...
Phúc nhìn quanh nhưng chưa kịp nói thêm thì một tên lính phóng ngựa đến, nhẩy vội xuống quì vái,  rồi nghiêng người ghé vào tai  Phúc thì thào.  Phúc nghe, trán hơi cau lại.  Bước ra, Phúc nhìn lão niên, cúi đầu  nghiêm trang:
- Kẻ ưu thời mẫn thế là người không bỏ phí đời mình. Bản quan đã đôi lần bàn hơn thiệt rồi, xin đại nhân nhớ cho.  Minh Thành Tổ tìm cách phục hồi con cháu họ Trần là thuận mệnh Trời và hợp lòng người.  Công tử tuổi còn trẻ, trí lực lại hơn người, bỏ phí thì quả là vô cùng đáng tiếc  cho con dân Giao Chỉ.
Lão niên vái, không đáp.  Ðợi Hoàng Phúc bước khỏi lán, lão quay lại bực bội:
-  Hừ,  Trãi có biết chúng tính  thế nào không?
 Nhìn vào màn đêm chụp xuống đen như đổ mực, Trãi đáp:
- Dạ biết...  Vì thế, con xin với chúng để con theo cha báo hiếu.
-... nhưng thế là hạ sách.  Chúng tính rằng nếu con hàng phục chúng, thì cả bọn sĩ hoạn sau rồi cũng vậy. Khi lớp sĩ đã cộng tác với chúng thì chỉ còn đám võ dũng vô mưu, đánh dẹp như phủi tay.  Còn phục hồi nhà Trần, chỉ là danh, không là thực, con rõ chứ?
Gật đầu, Trãi lại thở dài:
- Bên họ ngoại nhà con, Vương thúc Trần Thúc Dao bị lừa vì cái chiêu bài đó rồi.  Con nghe nói cả Trần Nhật Chiêu cũng đã hàng phục Trương Phụ, hiện được bổ đi trấn giữ Nghệ An...
Lão niên cười nhạt:
Thở dài, lão niên hạ giọng - Thực như vậy thì không thực, mà danh, xét cho cùng, còn tệ hơn hư danh.  Ðời sau người ta gọi là bọn bán nước...  Còn Nguyên Hãn thì thế nào?
Trần Nguyên Hãn vốn là quốc thích, vào hàng cháu Quốc thượng hầu Trần Nguyên Ðán, gọi mẹ Trãi là dì. Mẹ ngày xưa học với cha chàng lúc đó còn là anh đồ trẻ Ứng  Long, thương yêu ăn nằm vụng trộm với nhau đến có mang. Long sợ bỏ trốn, nhưng Ðán cho người tìm nhắn, cứ xem cái gương Tương Như với Văn Quân, nếu thế được thì Ðán gả con gái cho. Ứng Long quả sau thi đỗ Thái học sinh, nhưng không được vời ra làm quan nhà Trần. Sau khi Quí Ly thoán ngôi, Ứng Long đổi tên thành Phi Khanh, được bổ làm Hàn Lâm học sĩ.
Khi còn ở với ông ngoại là Nguyên Ðán, Trãi thỉnh thoảng gặp Hãn trong những dịp tế lễ ma chay. Lần cuối là lần cả hai dự đám tang của Phế Ðế Duệ Tông, bị chính cha là Thượng hoàng Nghệ Tông lệnh cho bóp cổ chết. Sau đó, Hãn nhất quyết không can dự vào chuyện triều chính. Về trang trại do cha ông đểà lại, Hãn  lo việc đồâng áng, thường hãnh diện nói rằng bát cơm ăn là do chính tay mình làm, không phải nợ  nần nhờ vả một ai. Sau nông vụ, Hãn thích đi ngao du, hễ có dịp là tìm Vũ Mộng Nguyên. Người này đỗ Thái học sinh năm Quí Dậu đời Thuận Tông năm thứ sáu, nhưng lui về ở ẩn. Không nói ra, Nguyên thỉnh thoảng úp mở chê cách dùng người của Thượng hoàng, ý ám chỉ sự chuyên quyền của Hồ Quí Ly lúc bấy giờ là Ðồng bỉnh chương sự, làm mưa làm gió đến độ chính  Quốc thượng Nguyên Ðán cũng phải nhẫn nhục nương thân. Sau khi Thăng Long thất thủ, Hãn mang gia tộc chạy về Thanh Hóa, gom thủ hạ trên dưới ba trăm người rút vào rừng tính kế phù Trần, nhưng hình như mới chỉ đánh tiếng, chưa rõ hư thực thế nào. Thấy Trải im lìm, lão niên sốt ruột  nhắc lại câu hỏi. Trãi giật mình thưa:
- Nguyên Hãn cản Thúc Dao không được, đã bỏ ra Hóa Châu đi lang bạt, rồi sau lại nghe đã quay về  nhà, không ai biết đích xác  ở đâu.  Con độ Hãn về lại vùng Hải Dương chăng...
 Lão niên thở ra:
- Trong đám hậu duệ nhà Trần, chắc chỉ có Hãn là người được việc lớn thôi. Còn lại thì chẳng nên cơm nên cháo gì. Vả lại, đức mỏng lắm rồi, nhà Trần có muốn phục lại  tưởng chẳng khác chi chuyện vá trời đội đá.
°
Cha con Trãi ngồi quanh đống lửa bập bùng cháy. Ðêm về, sương núi bốc lên thốc buốt giá vào đến xương đến tủy. Không ai nói năng gì, chỉ còn tiếng củi cháy lách tách giữa núi rừng, và thỉnh thoảng  tiếng khỉ tiếng vượn chí chóe văng vẳng từ xa. Bỗng có tiếng chân rồi một người mặt tái mét chạy vào lán. Cúi đầu vái lão niên, người đó quì một chân, giọng hốt hoảng:
- Quan gia có  lệnh vời  Hàn Lâm học sĩ  Nguyễn Phi Khanh!
Nói xong, người đó lại vái chào rồi hấp tấp đi.  Lão niên chép miệng bâng quơ, bây giờ vua chúa gì nữa mà xưng Quan gia, nhưng cũng quơ chiếc gậy đứng lên  vẫy Trãi.  Ðỡ cha, Trãi dìu đi, chân đạp vào những mỏm đá sắc cạnh mấp mô trên dốc.  Khí núi lạnh buốt ngấm dần vào người, Phi Khanh run rẩy, thỉnh thoảng lại níu tay Trãi lấy đà.  Quanh lối đi, quân Minh đã giải thành từng nhóm đi tuần tra, tiếng dáo mác đập loảng  xoảng. Ðến một khoảnh đất rộng, lính tráng quây vòng một dãy lều có liếp chắn quanh.  Ðó là nơi tạm trú của gia quyến họ Hồ vừa bại trận.
Bước vào, Phi Khanh ngước mắt đảo quanh.  Cạnh một chậu than hồng, Quí Ly ngồi trên một tấm da báo, mắt nhắm lại như ngủ, lông mày bạc như cước trắng chạy xệch xuống đuôi mắt thỉnh thoảng lại giật lên nhè nhẹ.  Hai bên Quí Ly là Hán Thương và Nguyên Trừng. Hán Thươngï vẫn mặc triều phục, áo gấm màu vàng có thêu rồng bằng chỉ đỏ, đầu đội mũ Triều Thiên. Về phần Nguyên Trừng, cân đai không có nhưng vẫn còn nai nịt, chỉ thiếu đao kiếm, thứ khó mà giữ được khi quân chẳng còn, tướng chẳng có.  Ðám quan văn võ thuộc cái triều đình phù du kéo đúng được  sáu năm quyền bính lục tục cúi đầu lấm lét bước vào. Ðợi cho họ ngồi yên vị, Hán Thương ủ rũ kể lể rồi thở dài:
-... lại thêm cái vạ mới, chúng điểm danh tối nay và không thấy hoàng tôn Hồ Ngũ Lang đâu.  Thượng thư Hoàng Phúc ghé qua, dọa sẽ đối phó thẳng tay, nay đã lên hội bàn với Ðô đốc Liễu Thăng.  Mong các vị giúp ý xem ta phải hành xử thế nào trong tình thế này.
Thời gian chùng xuống, giãn ra chơ vơ như một sợi dây căng mới đứt. Nhìn đám quan văn võ đi đầy ngơ ngác, Trãi vừa giận vừa thương. Lát sau, Thượng tướng Hồ Ðỗ ngập ngừng:
- Giông bão thế này, đi lạc là thường.  Thôi thì triều đình cứ xin tạ lỗi họ là xong!
Lúc ấy, Nguyên Trừng lắc đầu nhếch mép.  Quí Ly mở mắt, lấy tay gõ xuống thành ghế, cười ằng ặc trong cổ. Ðầu chít khăn đen, ngoài khoác chiếc áo ngự hàn lông gấu, thân thể Quí Ly phình to tương phản với khuôn mặt xọm lại, gò má gồ lên như hai nấm đấm, và cặp mắt trũng sâu cứ mở ra nhắm vào mệt mỏi. Miệng đã rụng hết răng, Quí Ly móm mém phều phào:
- Lỗi với chẳng lỗi!  Thua thì tội lỗi gì mà chẳng phải chịu.  Xin ai, ai cho mà xin...
Hán Thương cuống lên:
- Tâu bẩm Thánh Thượng, thế thì phải làm gì bây giờ?  Nhìn Nguyên Trừng, Thương tiếp - Ngũ Lang là con cháu huynh thì huynh phải chịu tội là đúng phép.  Con dại cái mang là thế!
Cười khẩy, Nguyên Trừng mím môi không đáp, mắt ngước nhìn lên trời như không nghe thấy gì.
- Im, im đi!  Quí Ly quát khẽ.  Chịu, ai cho chịu?  Tội gì?  Chỉ có một tội là thua, thế thôi.  Nhìn đám quan, Quí Ly tiếp - này các ông,  lộc nhà ta các ông chưa hưởng bao nhiêu, nhưng khi trước thì chính ta ban phát cho các ông bổng nhà Trần.  Chẳng nhiều thì ít, các ông cũng nợ họ Hồ.  Bây giờ, xí xóa hết nếu như các ông bảo làm sao chỉ có non nửa năm mà ta đã thua giặc Ngô dễ dàng đến vậy.  Biết thì ta có chết mới nhắm mắt được...
Dứt lời, Quí Ly ngửa mặt lim dim, ngón tay vẫn tiếp tục gõ nhẹ trên thành ghế. Khuôn mặt của một kẻ làm gió làm bão trên ba mươi năm liền căng cứng khẩn trương, hơi thở khò khè gấp lên như thúc giục.  Bọn Hán Thương, Nguyên Trừng cúi đầu. Ðám văn võ quan cũng cúi đầu.  Không khí đặc quánh lại, và gió bên ngoài lại bắt đầu cất lên giễu cợt.  Quí Ly thình lình hổn hển mắng:
- Ðồ vô dụng.  Ðồ chó heo, sao không mở miệng ra?  Chúng bay là quân hèn hạ, bây giờ cho nói đấy, sao cứ câm như hến.  Xưa, sợ uy ta nên có câm còn hiểu được.  Nay ta có còn là cái gì nữa đâu mà bay cứ ngậm miệng nín lời...
Hụt hơi, Quí Ly lại nhắm mắt, tay xua xua. Nhìn Phi Khanh im lặng, nước mắt ứa xuống đọng vào những sợi râu ngả bạc, Trãi bỗng thấy tủi nhục vô bờ.  Lấy công nương nhà Trần, cha chàng dù đỗ đạt cũng không được dùng vì cái tội dân dã mà dám vịn cành vàng lá ngọc, hai mươi năm liền vạ vật qua ngày.  Phò nhà Hồ thoán nghịch nên dẫu danh không phải là danh chính, cha chàng vịn vào ba chữ tri thiên mệnh. Nhưng nay, mang thân phận đi đầy, cái thiên mệnh nếu có thì chữ  "tri" kia không thể đúng được. Quí Ly không nói nữa, chỉ nhổ phì phì khinh bỉ.  Trãi không kìm được, đứng lên khom lưng vái:
- Khải trình Thánh thượng, non nửa năm thế là lâu chứ không phải là chóng.  Ðấy là cái ngọn của sự được thua.  Muốn hiểu, phải tìm cái gốc.
Bật dậy, Quí Ly mắt sáng lên nhìn Trãi, giục:
- Gốc.  Ừ, tiểu tử nói phải.  Gốc thế nào?
Cúi đầu Trãi ngẫm nghĩ.  Xưa Thánh thượng có thề với tiên đế Trần Nghệ Tông là không thoán ngôi Vua, nhưng sau nuốt lời, ấy là bất trung, bất tín.  Sau, đã ép Thuận Tông đi tu mà còn giết cho bằng được, ấy là bất nghĩa.  Ðoạt được ngôi vua, biết thế nên phao mình là dòng dõi Ngu Thuấn đổi tên nước là Ðại Ngu.  Nhưng lại ngay đó đưa quân chinh phạt Chiêm Thành, cướp đất lập công, mong xóa cái tội thoán nghịch.  Chiến tranh khiến dân đen oán thán, trong khi nội cuộc  chưa yên, ấy là bất trí.  Rời đô từ Thăng Long về Tây đô Thanh Hóa chỉ vì sợ giặc Ngô sẽ mượn cớ phục Trần mà xâm lăng. Ấy là bất dũng.  Kinh đô lại chỉ dựa trên hiểm mà không dựa vào đức,  ấy là bất đức.  Chống giặc Ngô, thu chuông chùa để đúc khí giới, bắt sư sãi xung quân, lại dùng sách vườn không nhà trống khiến dân đen hoang mang, thì là cách đánh giặc bằng lực mà quên đi rằng dân vi quí, ấy là bất nhân.
Nghiến răng, Trãi định nói ra hết lòng mình cho hả. Ngước nhìn thấy Quí Ly mắt hau háu, chân tay run rẩy, Trãi bỗng thấy cổ khan chát, lòng chùng xuống.  Một nỗi thương xót bao la cho thời thế chứ chẳng phải riêng ai dâng lên như thủy triều. Nói ra bây giờ, có thay đổi được gì đâu. Chỉ thêm cay đắng. Thêm tủi nhục. Quân thần nay một ruộc, chẳng lẽ còn dày vò chi nhau. Trãi khẽ lắc đầu. Giọng ngậm ngùi, Trãi chỉ thốt:
- Cái gốc là ở Thiên Mệnh, bẩm Thánh thượng.
Quí Ly trợn mắt, quát khẽ:
- Thiên Mệnh! Ngẫm nghĩ một lát, Quí Ly khà khà cười, cao giọng -  Ai khiến mi an ủi ta hả ranh con?
Lẩy bẩy đứng dậy, Quí Ly mất thăng bằng lại ngã ngồi xuống ghế, mồm hộc ra một bụm máu.  Nguyên Trừng liếc nhìn Trãi, ánh mắt long lanh như muốn ăn sống nuốt tươi.  Lúc ấy, Phi Khanh từ tốn đứng lên vái, chậm rãi:
- Tiểu tử nói vì Thánh thượng hỏi. Thật ra, Thiên Mệnh không ở đâu xa mà chính ở ngay tay ta.  Mất Thiên Mệnh, ta mất nước. Tất cả chỉ vì triều đình thiếu đúng có một chữ Tâm.  Vua quan như thuyền nhưng dân như nước.  Thuyền không lật được nước, chỉ nước mới lật được thuyền.  Có chữ Tâm, nước xuôi gió thuận, thế là Thiên Mệnh.  Không có, ắt bão giông sóng dậy, chuyện ý trời ý dân hẳn nhiên là một vậy!
°
Khi Hoàng Phúc sai lính đến thì gia đình họ Ðỗ đã lục đục sắp chỗ ngủ qua đêm.  Ðặng là thứ mười trong một gia đình có đến hai mươi mốt đứa con, hành nghề hoạn lợn, nổi tiếng là lành tay, tục gọi là Ðặng-thập vì quen mồm hứa hẹn lợn hoạn xong chỉ dăm  bữa nửa tháng là to lên bằng năm bằng mười ngay. Ðặng thị vốn khéo thu vén, kéo tấm chăn bông ra trải rồi bảo đứa con trai chui vào cho đỡ lạnh.  Nhìn vợ, họ Ðặng an lòng, cời lửa cho cháy lên rồi vác dao ra chặt thêm ít củi.  Một lát sau, Ðặng quay về, xếp củi cạnh lán rồi ngồi xuống cạnh vợ.
- Nhà ơi, phải chi mà mang theo được cái guồng quay tơ nhỉ?  Tôi chẳng biết bên Ðại quốc có không?
- Có chứ, Ðặng cả quyết.  Với lại họ bảo mình đi là để dạy cho họ cái nghề của mình.  Dạy xong thì muốn về là về, mang đi làm gì cho nặng...
- Tôi vẫn không tin, nhà ạ!  Ði rồi, về chẳng dễ thế đâu.  Có lẽ là tôi chẳng có bao giờ thấy lại bu tôi nữa. Ðặng thị nghẹn ngào -... mà bu tôi chỉ còn một mình, tuổi lại cao...  Nhiều khi tôi cứ nghĩ, nhà đi một mình sang bên ấy, rồi xem sau về được thì về.  Chứ dắt díu nhau thế này, muốn về cũng khó. Tôi nghe đến được Yên Kinh, đi cũng mất ba, bốn tháng, đường xá xa xôi, thổ ngơi không biết mà chữ nghĩa lại mù tịt...
Ðặng kéo chăn phủ lên vai, vùng tay:
- Mẹ mày lo xa. Nghề mình dạy cho họ xong là mình kiếm được cái vốn, chỉ mấy tháng là về thôi.  Tôi đồ vào quãng này năm sau là mẹ mày về làng, có tiền tha hồ mở mày mở mặt.  Xoa tay, Ðặng nói, giọng lạc quan - lắm khi lại tậu được sào ruộng thì có kém gì chuyện vinh qui bái tổ, hở!
Ðắp thêm chăn cho thằng bé con nằm co gối đã chợp mắt ngủ, Ðặng thị lắc đầu, tay quệt chìa vôi lên lá trầu têm sẵn bỏ vào mồm từ từ nhai.  Ðặng với lấy bị đồ nghề, lấy ra ngắm nghía. Bộ dao kéo này Ðặng thừa hưởng từ ba đời, nhưng tất cả bí mật nghề nghiệp không phải chỉ ở cái hình thể lạ lùng của cặp kéo hay lưỡi dao.  Ðặng mỉm cười đắc chí, tay mân mê chất thép lạnh tanh, thầm nhủ rằng có dạy thì cũng chẳng dạy cho hết, phải giữ một phần để phòng thân.  Ðặng thị vừa nhai trầu vừa nói:
- Nhà cứ đi ngủ đi, để tôi bỏ thêm củi đốt...
Nhìn vợ, Ðặng trạnh lòng.  Vừa định nói một câu an ủi thì có tiếng chân thình thịnh.  Hai tên lính Minh và một người thông dịch hiện ra.  Lệnh của Thượng thư gọi, Ðặng chẳng hiểu là chuyện gì, vội vã choàng tấm áo tơi lên người.  Ðặng thị mặt tái xanh, lúng túng:
- Chuyện gì vậy hả nhà?
- Cứ yên tâm, đi ngủ trước đi!
Ra đến ngoài, nghe người làm thông dịch thì thào vào tai, Ðặng lại  quầy quả vào lán, tay xách bị đồ nghề.  Ðêm hôm ấy, đến thật khuya Ðặng mới mò mẫm về. Mặt xanh rờn, Ðặng chẳng nói chẳng rằng rúc vào chăn.  Ðặng thị vẫn chưa ngủ, bảo với chồng:
- Nhà ạ, quanh đây chắc nhiều sói.  Nẫy, chúng nó hú lên rung rúc, ghê lắm.  Nhà có nghe thấy không?
Thấy chồng không đáp, Ðặng thị tiếp:
- Tôi chỉ sợ nhà đi đường rừng, sói ra thì nguy...
Quay mặt nhìn ra bìa rừng tối đen, Ðặng thở dài rồi bảo:
- Không phải sói đâu.  Tiếng người hú đấy...
Bị gặng hỏi mãi, Ðặng mới thì thào kể vào tai vợ. Ðặng thị nghe xong rú một tiếng nhỏ, chui ra khỏi chăn, sợ sệt quàng chiếc áo bông lên người. Cả đêm hôm ấy, Ðặng thị ngồi bó gối, miệng lẩm nhẩm ‘‘ Giời ơi, thật là thất đức, mẹ con tôi sẽ ra sao, giời ơi là giời! ’’.
°
Ðến cuối canh hai, gió lại bắt đầu xào xạc.  Nước trên lá rừng lộp độp rơi, lẫn vào tiếng côn trùng chập chập rên rỉ trong đêm thâu.  Bìa rừng, than từng đống vẫn còn heo hắt cháy trước những căn lều căng tạm nằm suốt từ cuối lên đầu dốc.  Phi Khanh co ro trong chiếc áo bông đã sờn, tay vân vê râu nhìn Trãi.  Góc lều, hai anh em Phi Hùng và Phi Bảo co quắp nhưng đã ngủ say, tiếng ngáy khò khè lúc lên lúc xuống.  Ðêm chìm xuống như đò chìm, từng chút một, nhưng không cưỡng lại được. Phi Khanh cất tiếng:
- Thế là cha đã nói hết.  Ðừng bao giờ tin danh nghĩa phù Trần mà phải tự mình cướp lại nước từ bọn giặc Ngô.  Chỉ có sách đó mà thôi, ngoài ra là mê muội cả.
- Thưa cha, chúng lấy sách vở ta đem đốt.  Rồi bao nhiêu sinh  đồ, thợ khéo, thậm chí sư tăng có sở học, chúng cũng bắt đem về Yên Kinh. Chúng lại mang Tứ Thư, Ngũ Kinh thời Tống Triều  sang nước ta rao giảng. Cứ thế, nước ta ruỗng ruột trước,  rồi sau như rắn không đầu, thì  con cháu nhà Trần hay ai đi nữa cũng chẳng thay đổi gì...
Im lặng, Trãi lát sau nhỏ nhẹ:
- Vả lại quyền lực xưa nay có ai cho không ai?  Ban đầu, chúng sẽ ra oai giết chóc cho ta sợ. Rồi sau, chúng sẽ ra ân mua chuộc lòng người. Nếu chúng mua chuộc  được là ta mất hết và chẳng có khả năng cứu vãn gì nữa trong tương lai.
Phi Khanh cúi đầu thở dài lẩm bẩm nói một mình:
- Có sách gì khác không?
Chống cằm, Trãi nhìn vào màn đêm dày đặc, mặt đanh lại thành đá tạc. Nét đăm chiêu khiến Trãi  già hẳn đi, lưỡng quyền nhô cao lên, gân máu trên thái dương nổi thành những vệt xanh chạy xuống mang tai. Nhìn Trãi, Phi Khanh thình lình nghiêm nghị  bảo:
- Thôi, con về đi. Theo cha mà làm gì!  Nghẹn ngào, Phi Khanh tiếp - Làm trai thì về mà trả ơn nước, thế mới là báo hiếu cho  cha, chứ theo để chỉ chôn một nắm xương tàn thì cha có chết cũng không nhắm mắt được.  Nay, Hoàng Phúc sẽ lấy cái mạng cha ra để ép con hàng phục.  Ðừng bao giờ!  Ngày nào cha nghe con theo giặc thì ngày ấy là ngày giỗ cha, nhớ đấy!  Chết không khó, nhưng sống cho xứng đáng mới là khó...
Giọng đanh lại, Phi Khanh chợt hỏi:
- Con có muốn ta chết ngay trước mắt con không?
Ngạc nhiên, Trãi vội đáp:
- Ðừng, cha đừng...
- Thế thì cha sống.  Nhưng đổi lại, con phải về để mưu phục cơ đồ.  Sớm muộn cũng phải vào hai châu Hoan, Diễn.  Ðó là chỗ dấy cờ.  Dựa lưng vào đất Lão Qua làm chỗ lui, hiếu hòa với Chiêm Thành để tránh thế bị kẹp.  Con nhớ chưa?
Trãi gật đầu, nước mắt ứa ra  chảy dài xuống má. Ðêm đang lặng lẽ thì thình lình có một tiếng hú, kèm theo là tiếng trẻ con khóc ré lên từng chập. Cú rừng im bặt tiếng rúc nhưng bầy ngựa hoảng vía hí vang lên, móng lộp cộp đạp vào mặt đất.
Tiếng hú thê thiết tuyệt vọng vẳng lại từ vách núi, kéo dài suốt một giải rừng dọc biên giới tựa không dứt được. Có khi, nó ậm ực tiếng nghẹn của loài hổ không nuốt được mồi, hả họng đến rách toạc yết hầu rồi đau đớn tru lên một lần cuối.  Sau, nó the thé tiếng mèo cái tranh đực trên mái dạ những đêm không trăng không sao trong mùa gió bấc, nghe nao lòng đến bủn rủn chân tay. Rồi đôi lúc nó lại khàn đặc, ê a than vãn, có đánh đập chửi bới cũng cứ tiếp tục xin xỏ như đám ăn mày từ châu Ái hàng năm lũ lượt rủ nhau về Kinh chìa tay đợi bố thí. Và lắm khi nó thành lời nguyền rủa rít lên giữa hai hàm răng nghiến chặt, rít như cơn gió oán thù  lùa vào lòng người đã chất chồng căm hận.
Cứ thế, tiếng hú lúc âm u não nùng đến từ cõi ma thiêng chốn âm gian, khi lại hệt tiếng gào rồ dại lúc giơ tay vĩnh quyết giờ tử biệt. Nó bần bật rung trong không gian mọi thể điệu của con người. Tức tửi. Nghẹn ngào. Căm phẫn. Bi tráng. Nhưng dẫu gì thì những tiếng hú đêm ấy đều chia xẻù cùng một niềm vô vọng cứ tựa biển muôn trùng. Mỗi lúc biển một bao la,  thản nhiên xoáy vào vỡ đất.
Văng vẳng suốt một vùng sơn khê, tiếng hú theo gió bay tít mù trong cõi nhân ảnh mỏng manh của những kiếp huyễn hão phù sinh. Cạnh Phi Khanh,  Bảo và Hùng đang ngủ cũng giật mình chồm dậy lắng tai. Mấy cha con nhìn nhau, nhưng chẳng ai nói với ai lấy một lời. Lát sau, Bảo quay lại nói chậm rãi:
- Thưa cha, thưa anh.  Phải ngủ thôi!  Ngày mai còn đi và đường trước mặt sẽ dài, dài lắm...
°
Tiếng hú vẫn văng vẳng trong đêm thâu đến từ phía đầu dốc. Trước đó không lâu, Hoàng Phúc đi theo Liễu Thăng vào căn lều nhà cha con họ Hồ.  Mặt mũi xương xẩu, râu rậm rì, mắt ốc nhồi chỉ thấy lòng trắng, Liễu Thăng  cao hơn người thường dễ cả cái đầu. Hắn vừa mới bước vào đã quát:
- Giỏi thật, bay giấu thằng bé đi đâu?  Ðúng là chẳng thể tin được bọn Nam di, hở một cái là chúng  lươn lẹo...
Vòng tay vái, Hán Thương chậm rãi:
- Thưa ngài, mưa bão thế này  có đứa trẻ đi lạc thì cũng là chuyện thường tình, xin ngài chớ mắng mỏ nặng lời.  Chắc tảng sáng, thế nào cũng tìm ra.
Quay lại nói thì thầm vào tai Hoàng Phúc, Liễu Thăng không thèm nhìn ai, vẫy một người phục phịch đi theo.  Run rẩy, người đó  bước ra. Liễu Thăng quát:
- Tên này họ Ðặng, ở trấn Sơn Nam, nổi tiếng là hoạn lợn rất tài.  Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh, nay bản Triều bắt hắn qua Ðại Quốc để lưu lại cái nghề đó cho thiên hạ.  Bọn bay có biết tại sao ta mang hắn đến đây không?
Cha con nhà Hồ nhìn nhau.  Quí Ly cười nhạt, miệng móm mém chiêu một ngụm nước, mắt lơ đãng không nhìn một ai, nhưng lông mày giật liên hồi.
- Ta mang nó đến để nó thiến tất cả cháu chắt chúng bay.  Nhìn Quí Ly, Liễu Thăng gằn - Thế là bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại.  Chúng bay tuyệt diệt con cháu họ Hồ nếu như chúng bay cứ còn úp mở dối trá.  Thằng bé đó đâu?  Ai mang nó trốn?
Quí Ly thình lình bật dậy, miệng rên rỉ:
- Tướng quân không làm thế được!  Lạc một đứa trẻ, dẫu nó là con cháu họ Hồ, có can hệ gì mà phải hành xử nhẫn tâm đến vậy?  Bất quá thì để đến sáng đi tìm.  Nó chỉ mười ba, mười bốn tuổi, chắc đâu đó trong rừng, có đi đâu xa được... Vả lại, cha con dòng họ tôi sang Ðại quốc đội ơn mưa móc đức Minh Thái Tông là đã thần phục, thế thì để lại trên đất này một đứa trẻ thân cô thế cô, miệng còn hôi sữa, thử hỏi là để làm gì, thưa ngài...
Hoàng Phúc bấy giờ mới xen vào, giọng mai mỉa:
- Ngài không thần phục cũng chẳng được.  Sau trận Hàm Tử thì coi như việc bình định là xong, lẽ ra Tướng Quốc Nguyên Trừng nên tự xử từ lúc tướng tan binh rã.  Nhưng úy tử là chuyện thường tình, tham sinh là chuyện thế nhân...
Cắt ngang, Liễu Thăng quát:
- Quân đâu, vào quây lại bọn cháu chắt mười ba đứa.  Họ Ðặng, cứ thiến.  Thiến một, ta vì chữ đức mà lại cho bọn chúng nó nói thật mưu đồ giấu giếm là gì.  Nói thì ta ngừng. Không nói, lại thiến.
Ðám trẻ cháu chắt nhà Hồ rú lên la khóc hoảng loạn. Chúng vùng lên chạy tứ tung, đứa rúc đầu như định chui xuống đất, đứa đâm bổ vào lòng cha ông, đứa tuyệt vọng quì lạy như tế sao. Quí Ly chồm dậy lao vào Liễu Thăng, bị hắn chặn lại rồi thẳng tay đẩy cho khuỵu xuống. Nguyên Trừng định xông ra nhưng hai tên vệ sĩ nhanh tay chĩa đầu ngọn thương vào họng. Hán Thương khóc rống lên van lậy, mặt mũi nhoè nhoẹt nước mắt.
Họ Ðặng định thần rồi bỏ từ lưng xuống một bị dao kéo.
Ðặng vẫy, hai tên vệ sĩ lôi một đứa bé đè xuống. Nhìn Hoàng Phúc, Ðặng nghiến răng, mặt tái mét, bẩm:
- Hạ dân chưa từng thiến người. Nếu mệnh hệ thì sao thưa Thượng quan?
- Chẳng sao ca û! Bớt một con rắn độc, càng tốt!
Lẳng lặng lôi một hòn đá mài ra, Ðặng chăm chú liếc một con dao dài độ hai tấc. Xong, Ðặng lại thò tay vào bị đồ nghề lấy một cái móc có khoen làm bằng giây đồng đưa lên ngắm nghía, miệng lẩm bẩm tính toán. Chặc lưỡi, Ðặng quay sang nhìn hai tên vệ sĩ, miệng chần chờ:
- Các vị lột quần của…của…công tử ra..
Có tiếng trẻ thét lên đau đớn.  Quí Ly lảo đảo đứng lên há mồm ra hú thảm thiết rồi gào:
- Thôi, tuyệt rồi.  Ta cũng đi thôi!
Nói xong, Quí Ly cắn lưỡi.  Không răng, lợi phập vào lưỡi day đi day lại nhưng vẫn  không đứt, máu miệng Quí Ly ứa ra bê bết chảy ròng ròng xuống râu xuống áo.  Nguyên Trừng chạy lại. Một tên võ sĩ hộ vệ Liễu Thăng vung ngọn giáo chặn ngay yết hầu, một tên khác kề kiếm vào gáy.  Nguyên Trừng la  lớn:
- Thượng hoàng, xin đừng tự hủy hoại!
Cười sằng sặc, máu lại ộc ra nhuộm đỏ chùm râu bạc dưới cằm, Quí Ly tiếp tục vùng vẫy hú lên điên dại.  Cứ thế, họ Ðặng thiến đứa thứ hai.  Quí Ly  lại cắn lưỡi. Vẫn không đứt.
Hán Thương lụp xụp quì xuống lạy Liễu Thăng.  Tên tướng nhà Minh chỉ trừng trừng nhìn Quí Ly, miệng nhếch lên ngạo nghễ, chẳng thèm để ý đến Hán Thương kêu khóc van xin.
Có người  kháo rằng nghe ra  đúng mười ba tiếng hú nơi địa đầu đêm hôm ấy.  Như vậy, Quí Ly cắn lưỡi cũng mười ba lần trong lúc Ðặng thiến con cháu họ Hồ.  Sau, trong đám gia nhân tùy tùng nhà họ Hồ có một kẻ trốn được từ Yên Kinh về Ðông Ðô.  Hắn kể suốt tám năm sau, nghĩa là cho đến khi chết, Quí Ly không bao giờ nói một câu nào nữa.
°
Cha con Hồ Quí Ly và gia thuộc ở toán xe đầu tiên vượt ải Phá Lũy khi trời chưa sáng rõ.  Tiếng bánh xe gỗ bọc sắt xào xạo nghiến sỏi lẫn vào tiếng ê a của bọn phu ngựa, rồi tiếng quát tháo của đám lính mở đường, khiến cho lũ chim rừng nháo nhác kêu chiêm chiếp rủ nhau đập cánh bay lên.  Cạnh những cỗ xe màn phủ kín, đám kỵ binh dong ngựa, tiếng lúc lắc đeo cổ reo lên như chế giễu những kẻ bại trận đi đày. Họ ngẩn ngơ, lòng trống vắng hững hụt rơi tuột vào cái vực hun hút phân vạch biên giới giữa Ðại Việt và Trung Hoa mãi cứ giằng co như chửng giỡn với lịch sử hàng ngàn năm, ú tim rượt đuổi tựa trò nghịch ngợm của hai đứa trẻ tranh giật nhau một cái bóng.
Thằng to vồ, reo lớn:
- Tao bắt được mày rồi!
Thằng nhỏ cười, giơ quả đấm:
- Mày bắt được bóng tao thôi.  Còn tao, tao đánh mày!
Thằng to:
- Ừ nhỉ, nhưng sao bóng mày lại chính là tao kìa.  Mày đánh tao là mày đánh cái bóng mày.
Thằng nhỏ:
- Còn mày, thế mày bắt cái bóng tao để làm gì cơ chứ?
Thằng to:
- Tao tô lại cho đẹp.  Ðàn bà phải mặc quần.  Răng thì đừng nhuộm đen nữa.  Và cấm ăn trầu.  Cái mùi nó hăng hăng không gợi hứng phòng the...
Thằng nhỏ:
- Thế thì tao giựt lại.  Dẫu thế là tao giựt chính bóng tao từ hình mày.
Trò đuổi hình bắt bóng  không chỉ là trò của Vua của Chúa. Sau toán xe đầu, đến lượt bọn quan văn, quan võ nhà Hồ.  Họ im lìm, đợi gọi lượt mình, nhích lên khi nghe và chìa một mảnh giấy có ghi tên những người trong gia quyến cùng đi sang Yên Kinh.  Ðám võ quan vẫn cân đai nai nịt nhưng ủ rũ nhìn xuống đất.  Ðám văn quan khăn đóng, áo the, nét mặt phần lớn buồn và nghiêm. Phi Khanh hướng về phương Nam, tay nắm tay Trãi, không nói gì.  Khi gọi đến tên Nguyễn Cẩn, một người trung niên râu đen nháy bước đến gần Khanh, nói nhỏ ‘‘...thôi, đệ đi đây! ’’.  Ðó là bào huynh của Nguyễn Biểu, kẻ sau này ăn cỗ đầu người để thi gan với Trương Phụ và chịu chém ở bến sông Lam chứ không hàng giặc.  Cẩn vái Khanh, thình lình xé áo buộc lên đầu như buộc khăn tang, vùng mình đi thẳng đến một mỏm núi.  Quay mặt về Thăng Long, Cẩn lạy rồi thét ‘‘ Nước mất, kẻ sĩ không bổ gan xẻ mật báo ơn thì chỉ còn cái chết mà thôi! ’’.  Nói xong, Cẩn lao mình xuống.  Khanh sững người, hai tay nắm chặt, răng nghiến kìm cơn nấc cứ ậm ực trong cổ.
Tiếng quát, tiếng roi quật, rồi tiếng chân ngựa lộp cộp.  Hoàng Phúc cùng đám vệ sĩ trờ tới.  Nhìn xuống vực, Phúc chẳng mảy may xúc động, lạnh lùng dặn dò bọn lính. Trãi  đặt tay lên vai cha râu tóc dựng đứng lên vì bi phẫn, thầm thì:
-... con sẽ về Hoan Châu, nhưng phải ghé lên Nhị khê đưa cả nhà cùng đi.  Cha đừng bao giờ làm như Cẩn, vô ích...
 Khanh mím môi, gật đầu:
- Nợ nước trước, thù nhà sau.  Nhớ lấy...  Cha không chết để xem con trả nợ trả thù cho cha như thế nào.
Cuối cùng, sau vua quan mới tới đám thứ dân bách tính.  Họ có lẽ ít hoang tưởng hơn cả, giành giựt thì có, nhưng ít khi giành hình giựt bóng. Họ thực tế, mang theo trăm thứ mùng, mền, chăn, áo và những thồ hàng. Hàng cũng đủ loại. Nào là lụa Hà Ðông, nhãn Hưng Yên sấy khô, rồi xương hổ, cốt sấu. Nào là tượng Quan Thế Âm bằng đồng đen lấy từ tháp Bảo Thiên, chiếc áo bào của chính Hưng Ðạo Ðại Vương khi ngài đánh trận Bạch Ðằng, cái nghiên của Trương Hán Siêu dùng khi còn là anh học trò mặt trắng. Họ kháo, đem đổi thì lấy sáp Tô Châu dùng để thoa môi, nhiễu Kim Lăng vốn xưa nay được đám nhà giầu ưa chuộng, hay the Hàng Châu làm đồ lót rất thời thượng đối với những tiểu thư nơi khuê các…Trong truyền thống buôn hàng chuyến mỗi khi sao đổi vật dời, phải nói thật là hàng dân vừa mất nước trên con đường vượt biên chẳng có vẻ gì là dày vò đau khổ cho lắm, trừ một hai trường hợp đặc biệt.
Trường hợp thứ nhất là họ Ðỗ.  Sáng sớm, Ðỗ tỉnh ngủ thì không thấy vợ và con đâu.  Ðỗ réo gọi, rồi chạy bổ đi tìm, vừa chạy vừa kêu ‘‘  Nhà nó ơi, tôi có nén bạc đây này! ’’.  Nén bạc này do Liễu Thăng ném cho Ðỗ để trả công hoạn mười ba đứa cháu chắt họ Hồ.  Bàn dân xì xào là Ðỗ thị đã mang con trốn được về xuôi.  Nghe ra, Ðỗ cũng rắp tâm lẻn đi, nhưng ban ngày ban mặt, bọn lính nhà Minh bắt lại. Chúng đánh họ Ðỗ một trận thừa sống thiếu chết và giải lên ải.  Mặt mũi sưng tím vì trận đòn, Ðỗ như phát điên, tay vẫn giơ nén bạc lên trời, miệng tiếp tục gọi  ‘‘... nhà nó ơi!  Ra mà xem.  Có tiền tậu được sào ruộng rồi! ’’.  Một tên đội trưởng cưỡi ngựa chạy ngang giật nén bạc, miệng cười hềnh hệch, tiện tay lại giáng một gậy vào đầu họ Ðỗ.  Ngã mặt úp xuống đất, Ðỗ vẫn rít lên ‘‘... nhà nó ơi!  Có nén bạc đây này! ’’.
Còn trường hợp thứ hai, không biết nên cười hay nên khóc.  Chị em ca kỹ phường Nghi Xuân làm cáng cho cô nhỏ nhất bị giặc hãm hiếp đêm qua, vất vả thay nhau khênh đi.  Cô em mặt tái nhợt, lên cơn sốt, mồm cứ lảm nhảm kêu ‘‘... mày là thằng Ngô, nhưng ta có là con đĩ đâu! ’’. Ðến đâu cũng có người tò mò bu quanh, nhưng sau một thôi đường, các cô yếu sức dần, đi mỗi lúc một chậm và thành cái mồi nhử bọn lính Minh.  Các cô sợ túm lại bàn nhau.  Cô chị lớn kêu:
- Các anh ơi!  Nam nhi thì đỡ tay đỡ chân cho chúng em.  Là phận con hát, chúng em hát cho các anh đi chân cứng đá mềm nhé.
Nói xong, cả bốn cô cùng hát:
Trèo lên núi dốc
Ngồi gốc cây rừng, (ôi)  tôi ngồi gốc ( ơ à ) cây rừng
Ối a, ông trời, ối a...
Rằng tình ( ô anh ) ở lại
Rằng tình ( sao anh ) ở lại
Cho chặt hết cây rừng, (là) em còn vẫn ( ối a ) khóc thầm...
Thế là đoàn người đi đầy theo nhịp Quan họ miền  Kinh Bắc.  Nghe đâu trước khi tới Yên Kinh, cả bốn cô đều kết duyên với những người đã nhận cáng cô em út.  Phi Bảo là người tận tụy nhất, có lẽ vì cái đêm hôm trước. Cô em út mỗi lần thấy Bảo là quay mặt khóc ấm ức. Bảo dỗ dành:
-  Thôi, khóc làm gì…Cho tôi xin lỗi!
Cô em út sụt sùi:
-  Rõ hay, có lỗi gì mà xin…Cái phận tôi nó thế. Ðừng đến cáng tôi nữa, tủi cho thân tôi…Trinh tiết chẳng còn, bơ vơ đất khách!
-  Không, tôi chẳng để em bơ vơ được! Tôi thề…
-  Còn tôi, tôi không tin.
Khi đoàn người đến địa phận Ung Châu, quân Minh bắt tách ra từng nhóm rồi chia về những địa phận khác nhau. Bảo lạc mất cô út. Sau khi xếp đặt yên ổn nơi ăn chốn ở cho Phi Khanh và Phi Hùng, Bảo lùng xục thăm hỏi khắp nơi. Mấy năm sau nơi đất khách, Phi Bảo tìm lại được cô này và xin cha cho cưới làm vợ.
°
Sáng tinh mơ, đoàn người đã vượt cửa Phá Lũy trong tiếng quát tháo của bọn lính canh.  Mặt trời đỏ lửng ló ra từ sau mỏm núi, cây cỏ xanh tươi như vừa tắm gội sau một đêm mưa. Phía bên này ải, đám thân nhân đưa tiễn những kẻ đi đày đã ngừng chân, thiểu não nhìn bóng người thấp thoáng trong những vòm cây cuối con dốc dẫn vào địa phận Quảng Tây. Thỉnh thoảng, ai đó khóc, khóc ấm ức.  Tiếng nấc nén chặt từ cổ bật ra lạc lõng trong thinh không nghe giống như tiếng những hòn đá núi vô tình lăn chạm vào nhau trên triền dốc.
Khi chỉ còn cây xanh trong tầm nhìn, những kẻ ở lại thất thần ra về. Họ tránh nhìn nhau, chân trượt trên những hòn đá bám rêu dùng để lát con dốc từ ải Phá Lũy xuôi về nam. Họ vừa mất cha, mất chồng, mất con.  Có thể họ vừa mất hết, kể cả chính họ, trong một đám tang chia hai. Ðám xuôi, đám ngược, không hương đèn, không khói nhang, không một vành khăn trắng, và không có tiếng nhị, tiếng kèn phường bát âm. Chỉ thế, im lặng.  Sự im lặng trong tủi nhục nặng nề đến có là thánh là thần cũng không làm sao nhấc lên cho được.
Cuối cùng, rồi Trãi cũng phải lê bước đi về, lời cha văng vẳng trong đầu. Chàng bơ vơ bước những bước không hồn, tâm trí tê đi đến độ không còn cảm thấy một ràng buộc nào gắn chàng vào cái thế giới hữu hình hữu thể vây bọc. Mọi sự ruỗng ra biến hóa hư hư thực thực.  Sáu năm qua là một chớp mắt như mơ.  Con cá quâãy đuôi, bèo tấm tán loạn trên mặt ao dạt làm tám ngả theo hình đồ bát quái.  Từ Thái Cực sinh lưỡng nghi.  Lưỡng nghi sinh tứ tượng.  Rồi tứ tượng sinh bát quái.  Và cứ thế, vũ trụ chồng chất theo vết cắt đôi của mọi thể, cả thực thể lẫn siêu thể, từ vật thể đến tâm thể.  Trãi thụp xuống, tay ôm đầu, miệng lẩm bẩm ‘‘...từ tám đến mười sáu, rồi ba mươi hai, cho đến sáu mươi bốn.  Những quẻ dịch này xếp đặt mọi biến đổi nhưng chúng đều chỉ có một điểm khởi đầu.  Ðiểm đó là gì? Ði ngược lại ắt biết. Nhưng làm thế nào?  Biết được thì hiểu lẽ thịnh suy, sinh diệt, nhược cường, thắng bại...  Bằng không, Trãi cười nhạt, buột miệng nhắc đi lập lại  -...Bằng không thì chỉ có đi đày!  Vô minh là tù ngục... ’’. 
Thình lình có tiếng  người  ‘‘  Ðâu phải chỉ có thế đâu.  Không biết là tù ngục mà biết cũng là tù ngục đấy... ’’.  Trãi hốt hoảng quay đầu lại.  Một vị sư quần áo nâu sồng không biết ở đâu tới từ lúc nào chắp tay cúi đầu:
- A di dà Phật.
Cạnh vị sư, một đứa trẻ chỉ độ mười ba mười bốn giương mắt tò mò nhìn Trãi.  Vị sư nhẹ nhàng:
- Thí chủ tha lỗi cho bần tăng lắm lời.  Thấy thí chủ ngồi ôm đầu, lúc đầu cứ tưởng thí chủ bệnh thương, lại gần thì nghe thí chủ nói nên mới góp vào.  Bần tăng là Ðạo Khiêm...
- Tôi là Nguyễn Trãi, ở Nhị Khê.
Vị sư reo lên:
- A, thí chủ hiệu là Ức Trai?  Thí chủ có biết Lý Tử Cấu không?  Nhìn Trãi gật, vị sư tiếp - Thế thì ta quả có duyên, Tử Cấu là chỗ quen biết nhà chùa đã lâu, nhiều lần nhắc đến thí chủ.  Bần tăng đi tiễn thầy là Ðạo Khải, lúc về thì nhặt được thằng bé này.  Còn thí chủ chắc cũng đi giã từ quan Hàn Lâm?
Trãi lẳng lặng gật đầu. Thằng bé chăm chăm ngó vào mặt Trãi, nhưng không nói năng gì, tay xách cái gậy dận xuống đất, miệng mím lại.  Ðạo Khiêm lại chắp tay:
- A di dà Phật.  Sinh ly còn nặng hơn là tử biệt.  Bần tăng chia tay thầy, người cho bốn câu kệ, xin đọc hầu thí chủ:
Sống ở kề, gió cả
Chết trôi xa, sông sâu
Gió sông quanh ta đó
Ði, ở có sao đâu!
- A di dà Phật.  Trãi ngập ngừng - Xin cảm tạ thầy có lòng khai sáng cho.
Ba người lững thững kẻ trước người sau xuống đến chân núi.  Dưới ánh nắng hừng hực, bóng họ trên đường hợp lại, rồi tan ra, cứ thế chập chùng thể  như trói buộc lẫn nhau vào một thứ qui luật càn khôn bất di bất dịch.
°
Chuyện vãn, Trãi mới rõ Ðạo Khiêm cũng đã từng là sĩ tử vào kỳ thi cuối cùng kỷ nhà Trần, đời Thuận Tông. Ði thi cùng khoa với Vũ Mộng Nguyên, Khiêm chính là kẻ đã bẻ bút đập nghiên, không đợi phép quan trường, bỏ ra rồi đi thẳng lại chùa Bảo Thiên xin xuống tóc.  Từ đó, ai cũng xì xào đáng lẽ ra Khiêm mới là kẻ đỗ đầu, và thế chẳng chóng thì chày cũng rồi chiếm chỗ tôn nghiêm nhất trong chốn quan quyền.  Nghe được, Khiêm chỉ cười rồi thủng thỉnh niệm Phật.
Vào chính Ngọ, họ xuống đến chân núi.  Cả bọn uể oải tìm bóng cây, giở lương khô ra ăn.  Chợt Ðạo Khiêm hỏi Trãi:
- Thí chủ định về đâu?
- Tôi tính về Nhị Khê, rồi sau thì chắc vào Hoan châu.  Nhưng cũng chẳng vội gì!  Trãi cười, giọng bùi ngùi - dục tốc tất bất đạt...
Ðạo Khiêm hỏi, Trãi chậm rãi kể qua câu chuyện trước khi từ biệt cha là Phi Khanh.  Ðạo Khiêm im lặng nghe.  Bên cạnh hai người, thằng bé đi theo chèo queo nằm, mắt hướng về phía rừng, miệng ngáy phì phò chừng như ngủ đã say.  Khi Trãi kể đến những tiếng hú đêm qua và đám cháu chắt họ Hồ bị Liễu Thăng sai đem thiến đi cả vì hoàng tôn Hồ Ngũ Lang lạc đâu mất thì thằng bé thình lình bật dậy. Nó ngồi lên, ngơ ngác nhìn, nhưng rồi lại nằm úp mặt vào tay, co quắp như một đống giẻ. Ðạo Khiêm bật miệng kêu ‘‘A di dà Phật ’’. 
Nhắm mắt, Ðạo Khiêm tay lần tràng hạt, mồm mấp máy tụng kinh. Một lát sau, Ðạo Khiêm nhìn Trãi  trầm ngâm:
- Sau này mời thí chủ ghé thăm chùa Thiện Chính ở Trường Yên ít bữa.  Chùa thuận lối vào Hoan, Diễn  hẳn cũng tiện đường. Bần tăng tin là ta còn cái duyên hạnh ngộ.
Bốp, một tiếng chát chúa, ngay bên cạnh tai.  Rồi bốp bốp.  Thêm hai tiếng.  Ai đó lay mạnh kéo tay Trãi.  Mở mắt, Trãi thấy  thằng bé. Tay cầm chiếc gậy, nó bảo, này, nhìn này.  Bên cạnh Trãi một con rắn bị đánh dập đầu.  Trãi vùng ngồi lên. Ðó là một con rắn thật chứ không phải những con rắn  trong cơn ác mộng vừa qua.  Con rắn dài đến hai thước, mình nâu xậm có vân hoa nửa vàng nửa đỏ, nằm sõng soài trong đám cỏ rừng xém cháy dưới nắng hạ.
Nhìn thằng bé đang lấy cây gậy chọc vào mình con rắn, Trãi hiểu là nó vừa cứu mạng mình.  Thằng bé buột miệng:
- May mà thấy kịp.
Trãi vỗ nhè nhẹ lên vai nó ra dấu cám ơn:
- Tên em là gì?
- Hà Trí Viễn.
Nhìn quanh không thấy Ðạo Khiêm, Trãi hỏi:
- Nhà sư đâu rồi?
- Ông ấy đi trước, cách đây cả giờ...
- Sao em không theo?
- Tôi phải vào Hoan Châu, đại nhân cho tôi theo với...  Có được không?
Viễn lại lấy cái gậy chọc vào đầu rắn như nhắc cái công mình. Trãi ngần ngừ, nhưng đặng chẳng đừng, gật đầu:
- Ðược, nhưng đừng gọi ta là đại nhân.  Nhìn Viễn, Trãi chép miệng - Chắc em trạc tuổi Phi Bảo.  Cứ gọi ta là anh.  Thế nhé.  Em quê quán ở đâu?
Trí Viễn ngần ngừ:
- Quê...  quê tôi ở Hà Tĩnh.
Trãi bật cười:
- Nhưng nơi nào, Hà Tĩnh rộng lắm...
Trí Viễn nói nhanh:
- Ở Kỳ Anh.
- Chỗ ấy là nơi cựu hoàng nhà Hồ bị giặc Ngô bắt, phải không?
Cúi xuống nhặt chiếc bọc, Viễn lảng chuyện:
- Ðại nhân ngủ mê, kêu la thế nào mà rắn nó bò đến, ghê thật! Bước lên vài bước, Viễn ngoái lại nhìn Trãi như giục lên đường -... thôi, không đi ngay thì đêm nay chắc phải ngủ rừng mất. 
Bần thần nhìn về phía ải quan, Trãi lặng thinh không đáp, trong tâm tưởng hình ảnh cha và hai em hiện ra nhưng xa xôi như áng mây lượn lờ cuối núi. Rồi thình lình tiếng hú khủng khiếp kia lại vang lên. Trãi ngơ ngác, hai tay ôm lấy đầu, mắt lạc tựa kẻ không còn hồn vía. Thấy lạ, Viễn ngừng chân, quay lại nhìn, vẻ dò hỏi. Trãi hoảng hốt bật miệng kêu:
- Lại tiếng hú đêm qua...
Không đáp, Viễn ngoắt người bước nhanh về đồng bằng phía dưới.